Thứ Tư, 3 tháng 1, 2018

THỜI HOA NIÊN

     Năm đệ Thất trường bán công Nguyễn Duy Hiệu,(Thầy Hồ Đài làm hiệu trưởng, cậu Lê Văn Đa làm giám thị). Tôi  học hành siêng năng, nhưng mất căn bản từ tiểu học. Toán số học và đo lường trả lại cho thầy Phấn. Cuối năm, trường công lập Điện Bàn thành lập (1962) do thầy Dung làm hiệu trưởng. Cha muốn tôi thi vào trường công. Nhưng cả cha và cậu Đa không yên lòng, nên sắp xếp cho anh Tâm (Thùy) – đã học đệ Ngũ – thi thế cho tôi. Kết quả không thấy tên!

    Năm Đệ Thất (1962 – 1963) thật nhiều kỷ niệm. Lớp Anh văn khoảng hơn bốn mươi đứa, cả gái lẫn trai. Số bạn tôi còn nhớ như Nguyễn Đình Ký, Đỗ Diện, Phạm Văn Đức, Lê vĩnh Hoè (mất 2017), Phạm Phú Cừ, Khúc Thừa Thế, Nguyễn Văn Diên (mất 1965), Lê Viết Nem, Hồ Nên, Lê Tự Mộng, Lê Tự Trập, Nguyễn Văn Rô (mất 2013), Lê Tự Thắng, Lê Tự Mầu, Nguyễn Trần Thị Xuân Bạch Tuyết, Lê Thị Liễu, Nguyễn Thị Hường, Nguyễn Chung (nhà thơ Nguyễn Hàn Chung), Trương Văn Chức, Lê Thị Phước, Nguyễn Thị Diêu, Trần Thị Cương, Nguyễn Thị Mười (Dung), Lê Bá Đại, Trần Lý, Nguyễn Thị Dơi, Phan Tấn Ngọc (Phan Thanh Dũng), Phan Xuân Dũng, Dương Dèo (Dương Thanh Thu), Nguyễn Văn Tục, Trần Thị Thôi, Phan Đức Liên, Nguyến Tám (Hội - mất 2017), Thân Tám (mất 2007), Nguyễn Xuân Thống (mất 2016),Cù Tân, Thân An, Lê Minh Tá


Nguyễn Văn Châu - Đỗ Diện - Nguyễn Đình Ký

     Năm Đệ Lục có Phan Thị Tuyết Hoa, cô bé xinh xinh, con gái làng Bảo An. Có lẽ con cháu cụ Phan Khôi!?


Thầy Nguyễn Phú Long (Nhà thơ Hoàng Thị Bích Ni)

      Sau 50 năm gặp lại, nhớ nhau từng chi tíêt thời hoa niên! Cuối năm làm bích báo, Nguyễn Hàn Chung, Nguyễn Văn Diên, Nguyễn Đình Ký và tôi gom bài của các bạn, chọn bài, trang trí. Có mấy bạn “đạo” thơ văn. Dù lúc đó không biết của ai, nhưng rõ ràng không phải của hắn!
      Cô Ngân Hà đọc bài thơ : “An Ký Chung Mầu Tá Dục Sinh – Châu Diên Diêu Dũng Tuyết, Hoa, Anh …” Cô bảo Cúc B làm thơ ghép tên các bạn hay qúa! Tôi còn định cóp cả thơ Hàn Mặc Tử, Bích Khê… Nhưng sợ cô biết, nên thôi…

     Tôi thích thơ Bích Khê, Đinh Hùng, Hàn Mặc Tử, Vũ Hoàng Chương…Trong thời gian này, thầy cô khuyến khích đọc các tác phẩm của Tự Lực Văn Đoàn. Diên cho tôi mượn cuốn “Bên Dòng Sông Trẹm” của Dương Hà. Thầy Phan Chánh Dinh ra đề:  Anh chị hãy viết tiếp truyện “Anh phải sống” của Khái Hưng. Tôi bê nguyên cả đoạn kết vào bài văn. Tôi cho Cái Nhớn đi theo dòng nước lũ sông Hồng:“… Mọi người âm thầm rảo bước để tiễn đưa Cái Nhớn về nơi an nghỉ… nghìn đời“ Thầy Phan Chánh Dinh lấy bút đỏ khoanh tròn!      
     Trưa học về, đạp xe qua tiệm sách Thời Nay, bên kia cầu Vĩnh Điện.  Mua giấy pơ-luya hồng, mượn thơ Hàn Mặc Tử viết lưu bút cho bạn gái :

“Chữa gặp nhau mà đã biệt ly
Hồn anh theo dõi bóng em đi
     Hồn anh sẽ nhập trong luồng gió
      Lưu luyến bên em chẳng nói gì…”

     Ai cũng nói tôi có khiếu văn chương!   
                     


    Chùa Hạ Nông được trùng tu, do cha cúng dường tam bảo. Ngày khánh thành (Rằm tháng Tư - 1962), tôi cùng anh Ngộ, Dần theo đoàn Phật tử chạy tung tăng. Mẹ nấu cơm chay, thiện nam tín nữ thọ trai, ai cũng khen. Nồi chay có khoai lang, mít chín cả xơ lẫn múi, đậu xanh, đậu phụng tươi giả nát, rau sống thơm nồng…
    Anh Tâm (Thùy) mặc áo lam, quần cộc xanh Phật tử. Tôi xin mẹ đi theo, nhưng cha không cho, cha nói:
     “ Dù xây chín bậc phù đồ, sao bằng làm phúc cứu cho một người“ – “ Phật tức tâm, tâm tức Phật!”
    Tôi lên chùa tụng kinh Vu Lan báo hiếu, cha nói: “Tu đâu cho bằng tu nhà, thờ cha kính mẹ ấy là đi tu“
     Lễ Phật đản 1963, chùa Hạ Nông không một bóng cờ. Bác Xứng tụng kinh cầu an, cầu siêu.
    Ngày 11.6.1963 Thượng Toạ Thích Quảng Đức tự thiêu ở ngã tư Lê Văn Duyệt (CMT8) 
     Ngày 20.8.1963, Ngô Đình Diệm thẳng tay đàn áp Phật gíáo. Các thầy ở chùa Tỉnh hội Hội An bị bắt…học sinh nghỉ học. Thị trấn Vĩnh Điện đìu hiu! Bác Xứng nói, ai theo Phật giáo là bị bắt, bỏ bao bố thả sông. Cầu Kỳ Lam biết bao nhiêu người chết…
     Cha nghe radio la lên : “ Đảo chính rồi! anh em Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu bị giết – Tướng Dương Văn Minh, Trần Văn Đôn…đảo chính thành công rồi”
     Đồng bào Phật giáo hò reo. Thị trấn Vĩnh Điện tưng bừng như mở hội, ai cũng hân hoan như mình vừa thoát chết – Đó là ngày 01.11.1963.
  
      Dần rủ về quê ăn khoai lang nướng, mẹ nó mới đào. Hai đứa đạp xe qua khỏi tháp Bằng An, gần đến ngõ Nghè Mai, Chánh Chước, đã nghe rộ tiếng súng. Mấy người gánh lá dâu băng qua đường, chạy về hướng thôn Nông Sơn… Dần nói đó là quân Giải Phóng.

     Những ngày mùa đông buồn da diết, Thân Tám (Thân Hùng – đã mất 2009) rủ qua bến xe Vĩnh Điện, coi xác Việt Cộng mới bị bắn chết. Bỗng nó khóc oà, nói chú nó! Không khí chiến tranh tràn vào lớp học, Dần, Bảy, Diên theo anh Đông làm du kích, lớp học thưa dần…


Thầy Phan Chánh Dinh (Nhà thơ Phan Duy Nhân)

     Thầy Phan Chánh Dinh (Phan Duy Nhân) dạy bài cuối cùng, bài thơ: “Nhà tôi” của Yên Thao.
NHÀ TÔI

Tôi đứng bên này sông
Bên kia vùng giặc đóng
Làng tôi đấy, sạm đen màu tiết đọng
Tre, cau buồn rũ ướt mưa sương
Màu trắng vôi lôm lốp mấy khung tường
Nếp đình xưa người hỡi, đau gì không ?
Tôi là anh lính chiến
Rời quê hương từ dạo máu khơi dòng
Buông tay gầu vui lại thuở Bình Mông
Ghì nấc súng nhớ ơi, ngày đắc thắng
Chân chưa vẹt trên nẽo đường vạn dặm
Áo nào phai không sót chút màu xưa
Đêm hôm nay tôi trở về lành lạnh
Sông sâu mừng lấp lánh sao lưa thưa
Tôi có người vợ trẻ
Đẹp như thơ
Tuổi chớm đôi mươi cưới buổi dâng cờ
Má trắng mịn thơm thơm mùa lúa chín
Ai ra đi mà không từng bịn rịn
Rời yêu thương nào đã mấy ai vui
Em lặng nhìn với lúc chia phôi
Tôi mạnh bước mà nghe hồn nhỏ lệ
Tôi còn người mẹ
Tóc ngã màu bông
Tuổi già non thế kỷ
Lưng gầy uốn nặng kiếp long đong
Nắng mưa từ thuở tang chồng
Tơ tằm rút mãi cho lòng héo hon

Ôi xa rồi, mẹ tôi
Lệ nhoà mi mắt
Mong con phương trời
Có từng chợt tỉnh đêm vơi
Nghe giòn tiếng súng nhớ lời chia ly
-         Mẹ ơi, con mẹ tìm đi
Bao giờ hết giặc con về mẹ vui

Đêm hôm nay, tôi trở về lành lạnh
Sông sâu mừng lấp lánh sao lưa thưa
Chiếc quần nâu đã vá mụn giang hồ
Chắc tay súng tôi mơ về Nguyễn Huệ
Làng tôi kia, bên trại thù quạnh quẽ
Trông im lìm như một nấm mồ ma
Có còn không em hỡi, mẹ tôi già
Những người thân yêu khóc buổi tôi xa?

Tôi là anh lính chiến
Theo quân về giải phóng quê hương
Mái đầu xanh bụi viễn phương
Bước chân đất đạp xiêu đồn luỹ địch
-         Này, anh đồng chí
Người bạn pháo binh
Đã đến giờ chưa nhỉ ?
Mà tôi nghe như trại giặc tan tành ?
Anh rót cho khéo nhé
Kẻo lại nhầm nhà tôi !
Nhà tôi ở cuối thôn Đoài
Có giàn thiên lý, có người tôi thương
(1949)

     Quê tôi chìm trong khói lữa. Máy bay ném bom tan tành ba cây đa cổ thụ. Cô dượng Ngũ ra đồng. Cà nông rơi trúng hầm, xác bốn đứa con, không đứa nào còn nguyên vẹn.
    Sáng sớm, quân Giải phóng tử hình thôn trưởng Nông Sơn, bắn thêm người em từ ngoài đồng chạy về. Chùa Hạ Nông vắng dần thiện nam tín nữ. Bác Xứng vẫn chiều chiều dộng chuông thinh không, vang vọng cõi trần ai. Nhà ông Đốc Thuyên – cháu cụ Trần Quý Cáp – cũng quạnh quẽ vắng ngắt.
    Gia đình tôi tản cư ra Đà Nẵng, Cha lấy lại căn nhà cho thuê ở đường Phan Châu Trinh, gần ông bà ngoại. Tôi được gửi trọ nhà ông Nữa - bảo vệ trường Nguyễn Duy Hiệu.  Cuối tuần mới về nhà. Thầy Phan Chánh Dinh, cô Dương Thị Ngân Hà, thầy Trần Văn Tường, cậu Lê Văn Đa cũng ăn cơm trưa ở nhà ông Nữa cùng tôi. 

 Cô Dương Thị Ngân Hà

     Những buổi chiều tan học, sân trường vắng hoe. Thỉnh thoảng cô bạn học P.T.T.H xinh xinh, trọ bên kia đường, mang áo quần xuống giặt ở bến sông, trước nhà trọ. Lòng tôi buâng khuâng, mong đợi, không nói nên lời…
    Một lần trong giờ toán của thầy Tường. Không biết đứa nào viết lên bảng :”Bạch Tuyết + Cúc B kết hợp”. Thầy Tường gọi tôi lên, tát cho một tai, tá hoả tam tinh! Mãi gần 50 năm sau, Phạm Văn Đức mới nhận là thủ phạm, trong lần hội ngộ, trước mặt thầy Tường!


Thầy Trần Văn Tường

   Năm đệ lục (1963-1964) tôi cùng Nguyễn Văn Diên, Nguyễn Chung (Nhà thơ Nguyễn Hàn Chung), Nguyễn Đình Ký thức trắng đêm làm bích báo. Do thầy Võ Toàn Trung làm giáo sư hướng dẫn.
     Từ thị trấn Vĩnh Điện về quê gần ba cây số, nhưng xa xôi vời vợi. Dòng sông Vĩnh Điện thỉnh thoảng mang những xác người, bị trói ké sau lưng, trôi xuôi theo dòng nước đục ngầu.




    Giữa năm đệ Ngũ (1964-1965) đang hăng say học tập, lần đầu tiên tôi được xếp hạng cao trong lớp. Nhưng lớp chỉ còn hai mấy đứa, nhập chung hai lớp Pháp và Anh văn. Cha chuyển trường, ra học ở Đà Nẵng. Hụt hẫng với môi trường mới, bạn bè mới: Trường Sao Mai.

QUÊ NGOẠI

      Sự tuần hoàn của tạo hoá thật diệu kỳ, giọt nước theo sông ra biển, lại trở về nguồn. Nhìn mây trôi, để ta hiểu lẽ đời “Sinh ký tử quy
    Tôi sinh ra tại nhà ông bà Ngoại, làng Nại Hiên, nay là kiệt I, đường Phan Chu Trinh, Đà Nẵng. Đêm 24 tháng Chạp, năm Canh Dần (31/01/1951) sau ngày ông Táo về trời. Có lẽ bếp núc quạnh hiu, nên tôi phải “ tha phương cầu thực ? “
    Ông Ngoại có căn nhà cổ. Mười mấy cây cột lim tròn, tán trên các phiến đá, khắc chạm công phu. Khoảng sân rộng trước nhà, hàng chè tàu làm bức bình phong. Bốn cây keo tây trồng cách khoảng đều đặn, ngăn con hẻm nhỏ.
    Cha đang ở Mỹ Chánh (Huế), mẹ theo cha. Bà ngoại có quán tạp hoá trước ngõ. Nghe kể mỗi lần tôi khóc, các dì lấy kẹo cho chó berger ăn, để dỗ dành...
   Căn nhà của cha cho ông Phúng thuê. Nhà ông Phúng có Đặng (hoạ sĩ Hoàng Đăng) cùng tuổi. Khi tôi lên ba, mẹ sinh em Ngọc (Xí – Quý Tỵ, 1953), rồi em Lũy (Ất Mùi – 1955).  
 
     Cha xa nhà. Mẹ đưa tôi về ngoại. Từ dì Năm đến dì Chín, các dì thay nhau bồng bế. Những lần mẹ vắng nhà, tôi khóc, các dì dỗ dành, cho kẹo chó nhai. Con Kiki – giống berger – to cao như bê, nhai rệu rạo, nhe hàm răng trắng hếu. Tôi nín.
     Lên năm, bảy tuổi. Tôi được ngồi ăn cơm với ông ngoại. Ông tôi có hàm râu trắng phau, ngày ấy tôi nghĩ ông già lắm. Nhưng ngoại sống chưa được hưởng thọ.
   Ông kể tôi nghe, mỗi lần ăn cơm, một chuyện ngắn ngủn, đêm nằm một chuyện dài hơn, đến khi tôi ngủ vùi, khuya đái dầm ướt cả ông tôi. Sau này lớn lên tôi mới biết ông tôi lấy từ “Cổ học tinh hoa” của Nguyễn Văn Ngọc.
     Đến bây giờ tôi vẫn còn nhớ chuyện “Ba con rận kiên nhau” :
“Ba con rận hút máu một con lợn, tranh nhau ăn, đem nhau đi kiện. Một con rận khác gặp, hỏi:
Ba anh kiện nhau về việc gì thế?
- Ba con rận đáp: Chúng tôi kiện nhau, vì tranh nhau một chỗ đất mầu mỡ.
- Con rận kia nói: Tôi tưởng các anh chẳng nên tranh lẫn nhau thế làm gì. Các anh chỉ nên lo đến con dao của người đồ tể giết lợn, ngọn lửa của bó rơm thui lợn mà thôi."
Ba con rận nghe ra, biết là dại, thôi không đi kiện nữa, cùng nhau quần tụ, làm ăn với nhau, dù no, dù đói, cũng không bỏ nhau. Con lợn thành mỗi ngày một gầy, người ta không làm thịt cứ để nuôi, ba con rận nhờ thế mà no đủ mãi.”




      Gần cuối thập niên 80, đêm đêm nghe đọc “truyện đêm khuya” bên cái radio cũ xì, rèn rẹt. “Cái đêm hôm ấy đêm gì” của Phùng Gia Lộc tôi đã khóc, không hân hoan như ngày xưa, ông tôi kể chuyện : “Sự tích cái yên ngựa

     “Ngày xưa có một vị quan tên là Hồ Lưu rất hung ác. Năm 62 tuổi, ông ta chết. Diêm chúa lật sổ ra thấy tội trạng còn quá nặng nên bắt buộc ông ta đầu thai làm con ngựa. Ông Hồ Lưu (tức là con ngựa), lớn kên bị tên nài bạc đãi, thúc đầu gối vào hông, cỡi không cần yên. Hồ Lưu buồn bã quá, nhịn đói không ăn cỏ, ba bốn ngày sau thì chết.
 Diêm chúa nổi giận:
- Thằng này trốn tội! Phải đền tôi cho đủ mới được trở về đây. Tự vận như thế là ăn gian!
Bèn cho Hồ Lưu hoá thai lần nữa, đầu thai thành con chó. Hồ Lưu tủi phận nhưng không dám tự vận như trước. Anh ta nghĩ ra một kế: "Mình cứ cắn ông chủ mình, ông chủ nổi quạu, sẽ đập mình chết". Hồ Lưu thi hành như ý định. Chủ nhà ngỡ là chó điên nên đập chết. Diêm chúa hay được, bèn sai quỷ sứ đánh vong hồn Hồ Lưu 50 hèo rồi phán:
- Mày phải đầu thai trở lại. Tội mày chưa trả hết mà mày đòi trốn hoài. Lần này, phải đầu thai trở lại làm con rắn. 
Hồ Lưu liền bị nhốt trong ngục, bò tới bò lui. Sau rốt anh ta khoét hang vựơt ngục. Biết rằng tự tử hay cắn người đều là trọng tội, anh ta bèn giả bộ bò ra ngoài, nằm giữa đường mà ngủ. Tình chờ một chiếc xe ngựa chạy qua, cán rắn đứt làm đôi. 
Diêm chúa phán:- Bấy lâu nay mi cực khổ nhìêu quá rồi. Ta không nỡ hành tội nữa. Vậy thì mi đựơc phép đầu thai về dương thế để làm quan mà cai trị dân, lấy tên là Lưu Công. 
Lưu Công lớn lên, học hành rất giỏi, đậu thủ khoa. Ông thường răn các người tuỳ thuộc, muốn cưỡi ngựa thì phải mang yên, mang nệm. Ý của ông là khuyên răn các người bên dưới nên tử tế đối với dân, đừng hà lạm quyền hành thúc ép mà đau khổ dân lành”.


     Đã hơn nửa thế kỷ, kể từ ngày ông ngoại tôi mất, không biết ông tôi đầu thai đi đâu. Thời ông tôi, ai cũng than sưu cao thuế nặng, dân tình khốn khổ. Vậy mà đã hơn năm mươi năm qua, những cảnh đời khốn khổ, bất công, nhân tâm ly tán, u ám của bóng ma thực dân, vẫn còn hiện diện đâu đây…

QUÊ NỘI

       Nhà ông Nội tôi – Thầy Kiều - thôn Hạ Nông Dưới (Hạ Nông Trung), Kỳ Ngọc (Điện Phước), Điện Bàn, Quảng Nam. Ngôi nhà mái ngói cổ kính, bên cạnh chùa Hạ Nông.
     Chênh chếch về hướng tây, cách nhà ông khoảng hơn nửa cây số: nghĩa địa Gò Bướm, có mả ông Nghè (Trần Quý Cáp).
   Tôi không biết chùa Hạ Nông có từ lúc nào. Chỉ biết ba tôi cùng dân làng trùng tu, thành ngôi chùa khang trang, với chuông đồng to lớn. Nghe nói, mỗi lần dộng chuông, ngoài Huế cũng vọng thanh âm. Quanh chùa có ba cây da (đa) trăm tuổi, trụ hình chân vạc. Về hướng tây bắc không xa, Miếu Bà linh thiêng u tịch, dưới bóng cây xoài cao vòi vọi.
   Quê tôi Điện Phước. Phía Bắc giáp xã Điện Hòa, phía tây giáp Điện Thọ, phía Đông giáp Điện An, phía Nam giáp sông Thu Bồn. Rạch Bình Long nối dòng sông Thu Bồn băng qua làng, xuôi về sông Hàn, Đà Nẵng. Điện Phước là xã thuần nông, đồng bằng màu mỡ, nhờ phù sa của Sông Thu Bồn. Sông Thu Bồn bắt nguồn từ khối núi Ngọc Linh thuộc huyện Đăk Glei, tỉnh Kon Tum và đổ ra biển tại cửa Đại, thành phố Hội An. Một nhánh chảy vào sông Vĩnh Điện, đổ vào sông Hàn, Đà Nẵng. Trước khi đổ ra biển tại cửa Đại, một phần nước của sông chảy vào sông Trường Giang, đổ ra vịnh An Hòa Tam Quang, huyện Núi Thành. Sông Thu Bồn cùng với sông Vu Gia, hợp lưu tại Giao Thuỷ - Đại Lộc, tạo thành hệ thống sông lớn có vai trò rất quan trọng đối với đời sống và tâm hồn người dân xứ Quảng.

     Ngày xưa…
     “…..có 24 tên làng thuộc huyện Điện Bàn hiện tại: làng Đắc Ký, Hoa Thử (Phong Thử), Kỳ Lam, Giáng La thuộc xã Điện Thọ hiện nay; làng Nông Sơn, Bất Nhị, Hà Khúc (Hà Nông) thuộc xã Điện Phước, làng Đông Bàn thuộc xã Điện Trung, làng Đa Thử (Đa Hòa) Cẩm Đăng (Cẩm Văn), Giáo Ái thuộc xã Điện Hồng, làng Lỗi Sơn (Cẩm Sơn), Diễm Sơn thuộc xã Điện Tiến, làng Hoa Hồ (Đông Hồ), Bích Trâm thuộc xã Điện Hòa, làng Lai Nghi, Phong Hồ, Kim Sa (Cẩm Sa); làng Thị Lại (Thi Lai), Kim Lữ (Cẩm Lậu) thuộc xã Điện Phong; làng Nhân Triêm (Phú Triêm) thuộc xã Điện Phương, làng Uất Lũy, Cúc Lũy (Khúc Lũy) thuộc thị trấn Vĩnh Điện và xã Điện Minh, làng Kim Quất (Thanh Quýt) thuộc xã Điện Thắng.
……
Lê Viết Bang, theo phò vua vào Nam chinh chiến, sau 1471 được vua Lê sai phái ở lại vùng đất Chiêm Động, có công khai khẩn đất hoang, qui dân lập ấp, lập nên làng Bằng An, nay thuộc xã Điện An.
…….
Đô trị bình Chiêm Lê Tự Cường sau thời gian phò vua Lê Thánh Tông đi đánh Chiêm thắng lợi đã có công khai khẩn xứ Bàn Tràm, làng Thanh Quýt thuộc xã Điện Thắng ngày nay)
…….
Có rất nhiều dòng Lê Tộc từ Thanh Hóa vào định cư tại đất Điện Bàn như Lê Tấn Viễn định cư tại Điện Dương, Lê Cao Xảo tại Điện Phước, Lê Viết Bảo tại Điện Nam, Lê Đường, Lê Tấn tại Điện Hồng, Lê Văn Đạo tại Đông Bàn, Lê Đắc Sùng tại Giáo Ái, Túy La (Điện Hồng), Lê Đắc Vinh tại Điện Hồng...
……….
     Trong tập san nghiên cứu lịch sử số 5 – 1993 của Viện Sử học Việt  Nam  có công bố một tài liệu gọi là “Bắc địa tấu từ” (bài tấu tâu về đất Bắc). Bài từ được viết ngày 12 – 6-1492 (năm Nhâm Tý Hồng Đức thứ 23) này là của 24 dòng họ từ các tỉnh phía Bắc, Cao Bằng, Nghệ An, Thanh Hóa, Hà Tỉnh, Hải Dương vào khai phá vùng Bắc sông Thu Bồn. Trong số đó có các dòng họ Phan, Hà, Trần, Thân, Nguyễn, Tào, Ngô, Đỗ, Đoàn, Đinh, Trịnh, Mai, Huỳnh, Từ, Mạc, Lê... Bài từ có nói đến các tên làng Nông Sơn, Hạ Nông, Châu Lâu, Đắc Ký...
………..
     “Theo bước chân của vua Lê Thánh Tông đi mở cõi, các bậc tiền nhân đặt chân vào Điện Bàn, xứ Quảng, rồi khẩn hoang, lập làng lập xã. Hạ Nông xã, Câu Nhí xã, Châu Minh xã, Mỹ Á xã… những cái tên xưa cũ đã từng lưu dấu trong “Bắc địa tấu từ”. Và trong “Ô Châu cận lục” của Dương Văn An biên soạn năm 1553, các làng của Hạ Nông xưa, Điện Phước nay, đã được xác lập như Nông Sơn, Minh Châu, Bất Nhị… Nhắc đến Bất Nhị, ai là người Quảng mà không nhớ câu hát ru:
“Bồng em mà bỏ vô nôi/ để mẹ đi chợ mua vôi ăn trầu/ mua vôi chợ Quán, chợ Cầu/ Mua cau Bất Nhị, mua trầu Hội An”.
      Chỉ có hơn 11 cây số vuông, nhưng Điện Phước quần tụ đến 12 ngôi làng cổ, 50 tộc họ. Xã được thành lập vào tháng 11.1948, trên cơ sở hợp nhất 4 xã Quý Cáp, Hiệp Lực, Nông Chánh, Liên Châu. Xã Quý Cáp hẳn là lấy tên của người chí sĩ sinh ra ở làng Bất Nhị. Cụ Trần Quý Cáp (1870 – 1908) cùng Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, hợp thành “bộ ba Quảng Nam” nổi tiếng, khởi xướng phong trào Duy tân với triết lý “chấn dân khí, khai dân trí, hậu dân sinh” còn giá trị đến vô bờ. Bên cạnh cụ Trần có cử nhân Mai Dị (1880-1928), đỗ đạt nhưng không ra làm quan và lui về quê, cùng các nhà Duy tân mở trường dạy học. Ông từng tham gia sáng lập và dạy học tại trường Diên Phong, bị giặc Pháp nghi án và bắt bỏ tù trong phong trào Kháng thuế năm 1908. Ở Điện Phước còn có tên tuổi vang danh là nhà ngoại giao Nguyễn Thành Ý. Cụ Thành Ý quê từ Túy La qua cư trú tại Bất Nhị, là một trong “Ngũ tử đăng khoa” (5 anh em trong một nhà có 3 người đỗ tú tài, 2 cử nhân). Cụ Nguyễn Thành Ý từng được vua Tự Đức cử làm Tổng lãnh sự tại Sài Gòn - Gia Định”.


Nhà thờ Tộc Nguyễn Văn Đệ tứ phái

     Ngay đầu cầu Vĩnh Điện, từ Đà Nẵng vào, hướng về làng Bất Nhị, Bình Long (Điện Phước), Phong Thử… khoảng hơn ba cây số. Qua tháp Chàm Bằng An, những căn nhà ngói ba gian đồ sộ của Nghè Mai, Chánh Chước, đến làng tôi. Xóm Hạ-Nông-Dưới nghèo nàn. Những nếp nhà tranh nép mình 
bên lũy tre xanh, dọc con đường đất nhỏ.
     Nhà ông Chanh có Lê Viết Hoàng (Nem) học cùng lớp. Nhà bà ba Ra. Vườn ông Cửu Tưởng hiu quạnh, vắng bóng người. Bà Mày có Nguyên, nghèo nhất xóm. Bà Tiếp có chị hai Tiếp, anh Xuyên, anh Đông. Nhà bà Nhì có anh Tam, Cật. Bà Mua có anh Tám Dần, cùng tuổi với chú mười Thi. Chú Liếng có chị hai Liếng, chị Ba, Bảy…  Nhà chú ba Mậu. Bên kia, gần bờ đập, ông Chánh Ba có chị Thông, anh Nga…

     Ông bà nội mất. Bác Xứng lo hương khói, kinh kệ chùa Hạ Nông. Bác Xứng có anh Tâm (Thuỳ), anh Ngộ, anh Hiệp và mấy chị. Chú Dần có em Dần cùng tuổi (đã mất), Dân, Nhân, Giai…  Sau này chú Dần làm nhà gần ông ba Mậu. Đi học về, anh Ngộ, Dần và tôi, cởi áo quần nhảy tỏm xuống “đàng nước”(mương thuỷ lợi), nước trong veo. Chú Bề “mân-te”(đưa nước vào ruộng), ôm gọn áo quần đi thẳng. Anh Ngộ, Dần ngó theo la í ới.
     Xóm Hạ-Nông-Dưới khoảng mươi nóc nhà, có đến bốn bà góa. Những người chồng đã hy sinh trong thời kỳ chống Pháp. Tây càn, ông Nhì ôm súng leo lên cây đa. Ông ra đi khi bà Nhì chưa đến ba mươi. Rồi những năm sáu ba, sáu bốn,  thế hệ tiếp nối như anh Đông, Dần, Cật, Bảy lần lượt vào du kích và hy sinh…
            Khi tôi sinh ra, ông bà nội đã mất. Bác tôi theo nghề ông nội. Bác giỏi chữ nho, bác dạy tam tự kinh cho lũ trẻ chúng tôi.


“Nhân chi sơ, Tính bản thiện,
 Tính tương cận, Tập tương viễn.
Cẩu bất giáo, Tính nãi thiên,
Giáo chi đạo, Quí dĩ chuyên.”

     Quê nội tôi yên ả thanh bình nhất, có lẽ sau hiệp định Genève 1954 đến cuối năm 1960! Đúng là thái bình thật, không trộm cắp, những đêm hè cửa thường bỏ ngõ. Tiếng hò khoan trong mùa cấy tháng tám, tháng ba thoang thoảng theo làn gió bay xa. Ngày xưa,  cái thiếu đói thời kỳ giáp hạt, là nỗi ám ảnh trong lòng người dân quê tôi thường trực.
         Rồi một ngày những người không phải lính, nhưng mặc đồ màu đen mang súng, vào ở chung với dân làng…
     “…Mùa xuân năm 1962, chính phủ Ngô Đình Diệm ban hành Quốc Sách Ấp Chiến Lược mục tiêu căn bản là tách rời du kích, quân sự của Cộng Sản còn cài cắm ra khỏi nhân dân nông thôn, không cho dựa vào nhân dân để xây dựng cơ sở hoạt động phá hoại, cuối cùng là cô lập hoàn toàn phải ra hồi chánh hoặc bị tiêu dịêt…”
     Nếu Quốc Sách này được tiếp tục và Ngô Đình Diệm không bị lật đổ, thì ngày 30.4.1975 có lẽ còn xa xăm…

    Ngày xưa làm ruộng chỉ có hai mùa: tháng ba, tháng tám. Mẹ tôi quảy gánh sang tận Đông Bàn (Gò Nổi), La Thọ mua sắn, mua khoai, xắt lát phơi khô, độn cơm.       
      Những buổi chiều tôi theo chú Mười (Thi) đi câu cá thát lát ở “giếng” Thủ Bộ. Gọi là “giếng” nhưng giống như hố bom, sâu khoảng vài mét, đường kính hơn chục sải tay. Tôi lội dọc theo triền nước, xúc những con “mày mày” (ấu trùng chuồn chuồn) cho chú câu…
     Có những hôm chú Mười câu được mười mấy con cá to, óng ánh như dát bạc. Mẹ làm chả cá thát lát, tuyệt cú mèo.  Nấu canh với rau tần ô ngọt lịm.
      Mùa đông mưa phùn gió bấc, bàu súng – rất nhiều cây bông súng, hoa trắng viền tím ngát - trắng xoá, nước mấp mé bờ đập thuỷ lợi. Ba tôi đặt lờ, cá rô, cá diếc, cá tràu, thác lác, cá trê béo ngậy. Nướng trên lò than, chấm nước mắm gừng hết chỗ chê! Nồi cơm đất nung thơm lừng với chén mắm cá nục, cá cơm. Dằm vào ớt tỏi, ăn quên thôi, quên mất phần người lớn!  

       “Ông tha mà bà không tha/ Làm cho cái lụt hăm ba tháng mười”. Nhưng lụt mang phù sa cho ruộng đồng phì nhiêu. Những gánh phân chuồng, phân xanh đã làm đượm tình quê, qua hương thơm ngạt ngào của hạt cơm lúa mới.
      Lụt lớn, lụt nhỏ nước chảy tràn đồng là những ngày hội hè của đám trẻ con, tất bật chạy đi đơm cá. Những bát cá mại, cá cấn, đủ loại cá con, kho với lá gừng, lá nghệ vàng ươm ngon hết biết, cơm không đủ ăn! Kể cũng lạ, đất khô nứt nẻ, nhưng khi mưa xuống lại có cá, không biết từ đâu?
      Gần Tết, từ đầu tháng Chạp, bác tôi đã cuốc đất lên luống, gieo cải. Nhà nhà lo Tết. Mẹ chuẩn bị sẳn không thiếu thứ gì. Đưa ông Táo về trời, mẹ nhờ chú ba Diện quảy gánh nếp đi bung. Nấu nước đường làm bánh hộc, bánh khô, bánh in, mứt dừa, mứt gừng, mứt bí đao… Chiều ba mươi quanh bếp lửa hồng, nồi bánh tét sôi sùng sục, tiếng heo bị làm thịt kêu eng éc…
     Đêm giao thừa pháo nổ vang khắp làng trên xóm dưới, rồi chìm vào hư không. Tiếng chuông chùa ngân vang… Sự thiêng liêng ngự trị trong lòng mỗi con người. Cầu mong mưa thuận gió hoà, quốc thái dân an.


Quê tôi, người dân bao đời vẫn sống chân chất, thanh lương. Miền trung đất hẹp, gánh nặng hai đầu đất nước. Chỉ học theo gương người trước, cố dành khoa bảng, phụng sự cho đời.
     Ngũ Phụng Tề Phi có nghĩa là năm con phượng cùng bay lên là danh hiệu do vua Tự Đức phong tặng cho năm vị đại khoa cùng đỗ trong một khoa thi năm 1898, và cùng thuộc tỉnh Quảng Nam, đó là một điều hiếm có trong một tỉnh. Năm vị ấy là:

  • Tiến sĩ Phạm Liệu (Trường Giang, huyện Điện Bàn)
  • Tiến sĩ Phan Quang (Phúc Sơn, huyện Quế Sơn)
  • Tiến sĩ Phạm Tuấn (Xuân Đài, huyện Điện Bàn)
  • Phó bảng Ngô Lý còn gọi là Ngô Chuân (Cẩm Sa, huyện Điện Bàn)
  • Phó bảng Dương Hiển Tiến (Cẩm Lậu, huyện Điện Bàn)
           Sau ngày ký Hiệp định Genève, ba tôi đưa gia đình về quê: Hạ Nông dưới, Kỳ Ngọc (Điện Phước), Điện Bàn. Cha làm căn nhà ngói to nhất làng, toàn là danh mộc, đúc bê-tông đầu tiên ở quê. Nằm giữa chùa Hạ Nông và nhà bác tôi.
      Tôi được khai tâm “trường” thầy Tư Khải. Gọi là trường, nhưng chỉ có hai dãy bàn bằng gỗ mít. Học trò lèo tèo năm bảy đứa, cả gái lẫn trai…
     Mẹ mua mấy cuốn vở, bình mực, bút lá tre. Mực viên hoà với nước, mực xanh, mực tím. Thầy dạy vỡ lòng, “a,b,c…a,ă,â… – nhân chi sơ tính bổn thiện…” Thầy dạy Tam tự kinh lẫn tiếng Pháp. Anh Tâm (Thuỳ) học lớp nhì, dạy thêm:“ Ma mère – Mẹ tôi, long – dài, mue – mềm”. Tôi xung phong đọc cho thầy nghe, thầy quất mấy cây quắn đít!
    Đường làng trơn. Từ nhà đến trường ngang qua vườn bà cửu Tưởng, không một bóng người, tôi sợ ma, sợ chó điên. Mẹ dạy phải bấm ngón chân khỏi ngã. Đến sân nhà thầy, tôi nằm thẳng cẳng. Con gái thầy bắt tôi cởi truồng, dội nước. Ngồi học không mặc quần.
     Em Ngọc, tên Xí, bốn tuổi. Luỹ, đúng ra là Lý, nhưng ông trời đặt tên! Khi làm khai sinh , thầy ký ở Hội An đánh máy thêm chữ U xen giữa, đành sửa dấu sắc thành dấu ngã - Luỹ. Bà ngoại đặt tên tôi là Lang, trùng âm với cô Lan (Phụng), cha không cho gọi tên Lang, đổi tên Luân. Nhưng khi làm khai sinh, cha lại đặt tên Cúc – trùng với cô Cúc (Trước)!
      Đến năm đệ tam, đổi tên Châu, cho đến bây giờ. Bỡi vậy, đối với thầy cô và bạn bè từ cấp hai trở về trước, tôi là Cúc. Gần năm mươi năm sau gặp lại, sao lại là Châu?
      Có lẽ học ở quê không vừa lòng. Cha dắt ra nhà ông bà ngoại, học trường ông thầy Già. Lũ học trò không thuộc bài, bị quỳ xơ mít, đội tắp-lô, ăn roi mây. Năm lớp tư, cậu Bốn xin qua trường Sào Nam của ông Thị Tý. Đi học về, ngang qua trường ông thầy Già, cả lũ reo hò: “ Ông thầy Già ăn cứt gà đỏ đít! “ bị cậu Bốn bắt gặp, tát cho mấy tai!
      Đêm nằm nhớ mẹ khóc thút thít. Học xong lớp ba, cha ra Đà Nẵng, thấy tôi đứng đứng nắm quai nôi, ru em Nga, em Nhàn (sinh đôi). Cha tức tốc thu dọn sách vở, dắt ngay về quê.
     Niên khoá 1960 – 1961, tôi học lớp nhì trường Kỳ Ngọc (Điện Phước). Học được mấy hôm, nghe lời xúi dục, trèo  lên cửa sổ ê a:“ Em yêu cô giáo lớp ba, hàm răng trắng nõn nước da đen sì…sì“. Thầy Trợ Lập, hiệu trưởng gọi lên văn phòng. Chuyện đến tai cha. Lớp tôi đa số đi học bằng chân không. Không giày, không dép. Tôi còn nhớ vài khuôn mặt: Đỗ Cả - có tài hát bội, Trần Văn Giám, Lê Minh Tá, Nguyễn Thị Lành, Đinh Thị Tân, Trần Hoài Thanh, Nguyễn Văn Đạt (Ngộ), Nguyễn Văn Bảy (cao giò)…
     Em Dần học sau một năm, trường thôn, gọi là trường học Mới, cùng với em Ngọc. Bảy cao giò – con chú Liếng, lấy trộm truyện thơ “Phạm Công Cúc Hoa, Trần Minh khố chuối…” cho tôi mượn. Tối về đọc cho mẹ nghe, có chỗ mẹ khóc, tôi cũng khóc… Bảy (Sau đi du kích với Dần, hy sinh 1972) đòi sách, Dần nói “mét” mẹ nó. Nó sợ không dám đòi.
   
     Năm lớp nhất, tôi học thầy Phấn (Cha của Trần Kỳ Cung – nay ở Mỹ). Nhà Thầy ở ngã ba Vĩnh Điện, đường xuống Hội An. Thầy cận thị nặng, mấy đứa rủ nhau ngồi cuối lớp, thầy không thấy, ít dò bài. Vậy mà thầy cứ gọi tôi với Bảy cao giò! Ngày đó còn thi tiểu học, ngoài thi viết còn phải thi vấn đáp, nhưng không đứa nào hỏng cả.
     Từ đây, như chim non rời tổ ấm. Một số không đi học nữa, như anh Ngộ, Bảy ở nhà chăn trâu. Trần Văn Giám về Saigòn. Hơn một nửa, sau này đi du kích, như Nguyễn Văn Diên, Nguyễn Văn Bảy…
    Cuối năm lớp nhất, mẹ cho tiền mua sách và cặp, về khoe với cha là phần thưởng. Chẳng may thầy Trợ Lập đến nhà chơi, bảo tôi học chẳng ra gì!

     Ngày nước nhà thống nhất, chùa Hạ Nông chỉ còn nền gạch hoang phế, ba cây da cổ thụ, cây xoài Miếu Bà không còn nữa. Cha mẹ tôi cũng đã khuất bóng từ lâu.

Thứ Hai, 1 tháng 1, 2018

AI GIAO LẠI TUỔI THƠ TÔI

     Ngày ấy tôi mới vào đầu cấp, trường trung học bán công Nguyễn Duy Hiệu, Điện Bàn, gần con sông Vĩnh Điện hiền hoà. Thầy Phan Chánh Dinh (Phan Duy Nhân) trích giảng bài học đầu tiên :
     “Này gã trai tơ, sách chật năm ngăn, mộng ứ rương hòm, tôi xin giao lại cái giang sơn thơ mộng cho người. Mà gọi làm chi khác tình vậy nhỉ! Ở trong tuổi đẹp, chúng ta để là bầu bạn: giang sơn tuổi nhỏ, này anh giao lại cho em. 
Hai tay em đang đầy hoa lộc của đời, những hoa lộc phong một lớp sương mờ, như một trái quà phong màng giấy xanh. Em mở ra cho trân trọng! Em có mười sáu tuổi chỉ một lần, em không có đến hai lần cái tuổi hai mươi, em chẳng bao giờ có lại tuổi mười tám. Em chỉ có một tuổi vui, em sẽ có một trăm năm buồn; tất cả đều tùy em đó, xấu đẹp ở tại lòng em. 
…………
     Em mười lăm tuổi, em tuổi hai mươi! đừng để mất một cái gì mà không hưởng. Em tưởng sau này em lớn, đi chơi bời mà là hưởng sao? Những cái ấy để cho bọn giác quan què quặt, tâm trí ngu đần, ta, thiếu niên, có thể không mất một xu mà hưởng hết của trời. " Say là say nghĩa, say nhơn, say chung Lý Bạch, say đờn Bá Nha " chứ há có say cái thứ rượu tồi mạt của Lưu Linh!”
………….
                                                 (Xuân Diệu – Giao lại)

     Quê tôi nghèo, đa số bạn tôi đi học chân không dép, chạy vội về nhà sau giờ tan học. Con trâu, cái cuốc, cái liềm chờ sẵn trong sân. Chỉ có ông Giang Nam mới nghĩ  “Ai bảo chăn trâu là khổ”. Chiều mùa đông rét mướt, chiếc tơi lá không che đủ hai tay. Học về ngang qua mả ông Nghè Trần Quý Cáp – Mả ông Nghè là Văn Miếu làng tôi – thuận tay hái rau dại, gánh về cho mẹ nuôi heo.
   Không ai giao lại tuổi thơ tôi. Tiếng ùng oàng từ Bà Nà, núi Chúa vọng về, dòng sông Vĩnh Điện đục ngầu, những thân người bị trói ké, úp mặt trôi theo dòng sông ra biển.
    Tuổi thơ tôi, nhiều bạn tôi vắng dần, ra đi khi chưa đủ lớn, rồi đi mãi không về.
    “Ông tha mà bà chẳng tha, hành cho cái lụt hăm ba tháng mười”. Bão Hagupit tàn phá gãy đổ cây đa đầu làng, xiêu vẹo nhà tranh vách đất, chưa kịp chống lại, trận lụt năm Giáp Thìn 1964 cuốn phăng đi. Con sáo yêu thương chết cóng tự lúc nào, đưa hai chân co quắp lên trời. Tuổi thơ tôi trôi theo dòng lũ dữ.
   Không ai giao lại tuổi thơ tôi, chênh vênh giữa hai bờ…

   Tôi đứng bên này sông
Bên kia vùng địch đóng
Làng tôi đấy xạm đen màu tiết đọng
Tre cau buồn tóc rũ ước mơ sương
 ……………….
(Yên Thao – Nhà tôi)

                               Rồi một ngày, con đường nhựa quê tôi bị băm nát, nham nhở. Những buổi chiều ngóng về như xa xôi ngàn dặm. Chỉ còn được nhìn theo những áng mây bay. Nhà tôi đâu có “khuất bóng hoàng hôn” mà nghe chừng như “trên sông khói sóng cho buồn lòng ai”.
           Gia đình tôi tản cư ra Đà Nẵng. Khu An Cư dựng tạm đón dân làng tôi. Gió từ biển Mỹ Khê lùa vào mang theo vị mặn, trộn lẫn với nền cát dưới chân hừng hực lữa.
        Ngày được đi học lại, là niềm hạnh phúc vô biên với lũ trẻ chúng tôi. Trường lạ, bạn mới. Ngỡ ngàng, thua thiệt lúc ban đầu dần hồi tan biến. Các thầy cô đã trộn lẫn chúng tôi, ân cần dìu dắt, có phần thương yêu hơn dành cho lũ trẻ chạy giặc.
     Mỗi ngày, từ chiếc đò ngang An Hải, biết bao nhiêu tà áo trắng. Học sinh Đông Giang, Phan Chu Trinh, Phan Thanh Giản, Sao Mai, Bồ Đề, Nguyễn Công Trứ…  đi về sớm tối. Tôi chìm nghỉm trong đó. Những lần trễ đò, tôi lang thang dọc sông Hàn, qua cầu Trịnh Minh Thế (cầu Trần Thị Lý), gió sông lành lạnh, xô dạt đưa tôi về nhà.

Trường Nguyễn Duy Hiệu - Điện Bàn


                Những ngày thi tú tài, ám ảnh mãi trong tôi. Năm học tới sẽ vắng dần… Ai sẽ “rớt tú tài anh đi trung sĩ” ? Ai sẽ vào Quang Trung, Thủ Đức, Đồng Đế, Đà Lạt. Nha Trang… Ai sẽ không về và sẽ mãi mãi không về ?

              Những người bạn cùng trang lứa năm xưa – tuổi thơ tôi – Hỡi người muôn năm cũ, hồn ở đâu bây giờ…?

NGÕ NHỎ

         Từ ngã ba “thịt chó”, Trưng Nữ Vương - Phan Chu Trinh. Gọi ngã ba thịt chó, vì có quán thịt chó của ông Ng. - cha thằng Ngọc - học cùng lớp với tôi ở trường Sào Nam - Trường của ông Thị Tý. Sau năm 1954, mới có quán thịt chó này.
     Cách nhà ông Ng. hai căn, trên đường Trưng nữ Vương, là nhà hộ sinh Bà Quế. Nơi tôi sinh ra, làng Nại Hiên xưa, Xen giữa có nhà ông Ch. thầu rác Mỹ. Đối diện nhà hộ sinh là xưởng vẽ của cậu Cưỡng. Cậu là chị em cô cậu ruột với mẹ tôi. 
     Góc đường bên kia, nhà ông Thầy Năng, hành nghề đông y.  Ông bà Sứt, bà Tân Trang may áo dài (bây giờ nhà thuốc tây Trang). Ông bà H. di cư, có hai cô con gái đẹp như mẹ Maria, sau này là nhà bà Ánh Sáng, đến kiệt I Phan Chu Trinh, Đà Nẵng, ngõ cụt.
    Tôi sinh ra tại nhà ông bà ngoại, làng Nại Hiên – Đà Nẵng. Con đường Phan Chu Trinh rợp bóng cây kiền kiền cao tít tắp. Những trưa hè, cả nhà quây quần dưới gốc cây, người lớn tay cầm quạt phe phẩy, kể chuyện làng, chuyện xóm, chuyện đông tây kim cổ,Thạch Sanh Lý Thông…
Mẹ tôi ru:

Đứng bên ni Hàn
Ngó bên tê Hà Thân
Nước xanh như tàu lá
Đứng bên tê Hà Thân
Ngó về Hàn, phố xá nghênh ngang
Kể từ ngày Tây lại đất Hàn
Đào sông Cầu Nhí, bòn vàng Bồng Miêu
Dặn lòng ai dỗ đừng xiêu
Ở nuôi phụ mẫu sớm chiều có nhau
     Tôi ngủ say theo cơn gió hiu hiu…
     Từ đầu hẻm, bên phải là nhà ông Đội Liên – có cô con gái Tuyết Nga, cùng trang lứa với tôi. Kế đến nhà ông Nuôi bán kem, ông Diệu thợ mộc – có Quảng. cùng lớp.

      Ông bà ngoại có căn nhà cổ. Khoảng sân rộng phía trước, hàng chè tàu làm bức bình phong. Bốn cây keo tây trồng cách khoảng đều đặn, ngăn con hẻm nhỏ. Ông bà ngoại có cậu mợ Bốn, cậu Bốn có em Vân kém tôi ba tuổi, em Mạnh. Dì Chín, cậu Ngãi và cậu Nghĩa. Các dì khác đã có gia đình riêng. Trưa nào dì Chín và cậu Nghĩa cũng bắt tôi và em Vân ngủ trưa, đi học phải mang đôi guốc mộc.

    Nhìn từ bên ngoài, nhà cha mẹ tôi bên trái. Căn nhà của cha cho thuê. Bên phải nhà dì Năm, chồng là dượng ba Hiền - tài xế xe Phi Long – Tiến Lực, có em Lực nhỏ hơn tôi một tuổi. Mấy cây sầu đâu trụi lá vào mùa đông, chia  ranh giới nhà dì Năm với nhà ông Diệu. Nhà bà Mười – cậu Cưỡng, dì Thương. Dì có chồng là dượng Bường, đi lính nhảy dù, kế bên nhà bà sáu Xảo. Con đường nhỏ đi qua trường tiểu học Sào Nam, thông ra đường Hoàng Diệu.
     Vòng qua bên kia. Nhà bà Thông làm kẹo, bán lại cho ba mẹ Hanh Parton (sau này anh bốn Hí và anh mười Trác). Những trưa hè theo anh Toan, con bà Thông đi bắn chim, tôi nhặt sạn, khi về nhổ lông nướng lên, anh cho tôi hai chân con chim sè sẻ. Nhà ông Bà Vũ – Cha mẹ vợ tôi sau này. Dì Sáo (ông Nhạc bà Hành), ông bà Phụng, bán trầu cau ở chợ Mới, ông Chơn – Ba của Rân. Ông Tựu, ông bà Thanh. hay rủ mẹ tôi đánh bài tứ sắc.
      Ngõ nhỏ chỉ bấy nhiêu nhà. Ngày xưa, cách nhau vài ba tuổi, tan học tụ tập chơi bi, tán “nắp ken”, tán hình, tán lon, đánh lộn. Con gái nhảy dây, chơi chuyền.
     Từ ngã ba “thịt chó”, xuôi về trung tâm thành phố. Cách hẻm nhà tôi khoảng hơn trăm mét, lối vào chùa Diệu Pháp, gần trường tiểu học Sào Nam, thông ra đường Hoàng Diệu. Trường Thọ Nhơn của người Hoa, bên kia đường. Chùa Phổ Đà cổ kính với những cây sứ trắng, hương thơm ngát. Đến ngã ba Phan Chu Trinh – Chu văn An, cà phê Quỳnh Châu, cô chủ quán đẹp ngất trời mây. Rẽ phải Lê Đình Dương đến trường Sao Mai, cổ viện Chăm, bánh bèo Quan thuế, dọc theo sông Hàn.
     Bà ngoại mỗi đêm hay dắt tôi đi coi hát bội tại nhà hát Hoà Bình (Nguyễn Hiển Dĩnh). Tôi khóc theo bà, khi gặp cảnh éo le. Tôi cười ngoặt nghẽo khi anh hề làm trò. Qua ngã năm, rạp ciné Lido, nhà hát Trưng Vương. Băng qua Hùng Vương đến trường nữ trung học Hồng Đức, trường Phan Chu Trinh, Phan Thanh Giản, bán công Nguyễn Công Trứ…
     Nhừng đêm trăng, cả con trai, con gái kéo nhau ra khoảng sân rộng trước nhà tôi, chơi trò “bịt mắt bắt dê”. Có khi tôi bị bịt mắt, túm ngực một em, đôi gò bồng đảo mới nhú, cảm thấy lòng lâng lâng… 

TRĂNG TREO MÁI LÁ

Tôi đi loanh quanh vì không biết đường, vác trên vai bao tải nặng trịch. Bỗng nhiên cô gái từ trong nhà bước ra chận đường: - Anh tìm ai mà...