Thứ Sáu, 5 tháng 1, 2018

THÁNH SỐNG CỦA TÔI

    Nói đến Thánh sống, người ta nghĩ đến Thánh Mahatma Gandhi - Ắn Độ. Với tôi: Thánh sống là cậu em vợ tôi.
     Cậu bị câm điếc do sốt bại liệt từ nhỏ. Nhân dịp tàu bệnh viện Helgoland của Đức, cập bến sông Hàn (1967), mọi người khuyên nên đưa cậu xuống tàu nhờ chữa trị. Nhưng vì quá yêu thương, mẹ vợ tôi sợ nguời ta mang cậu đi mất. Năm ấy cậu được bốn tuổi, chỉ biết nhìn trời và cười ngô nghê…
     Vậy mà cậu sống đến bây giờ. Cậu ở với gia đình tôi gần hai chục năm nay, từ ngày ông bà ngoại các cháu qua đời.
…..
Đời ông chỉ có vui
Với cà phê, thuốc lá
Ngày hai cử phiêu diêu
Quên cuộc đời chó má!



Ông thấu hiểu nhân tình
Kho tàng ông chỉ có:
Tốt - tốt và tốt thôi
Lòng bao dung quảng đại…

Ông điếc nhưng không mù
Mắt nhìn thay lời nói
Dấu chấm hỏi tròn vo
Bay lên trời thành gió

…….

     Bên cậu, tôi quên hết khổ đau lẫn u uẩn đời mình. Sự thánh thiện của cậu, dìu hồn tôi qua khỏi bến mê điêu ngoa, gian trá. Tôi đã biết vị tha và bao dung hơn trong cuộc sống.
     Tâm an lạc nơi cậu, đôi khi khiến lòng tôi xấu hổ, khi soi rọi lại chính mình. Mang tấm thân què quặt, nhưng cậu không làm phiền đến ai. Ngược lại, quan tâm đến người khác. Một cái nhíu mày, tâm thần bất an… Cậu nhìn và nhận biết, chia sẻ bằng sự an ủi vô ngôn, qua tia mắt đậm tình nơi cậu.


     Phật sống là cha mẹ tôi, đã không còn nữa. Cậu là Thánh sống bên tôi.

GIÀ KHÚ ĐẾ

     Hơn nửa đời người. Lão Bang gặp lại bạn già tình cờ như trời định. Ký ức như cuốn sách dày lật ngược, những trang đầu cũ sì bỗng bừng sáng. Hình ảnh tuổi thơ lướt qua tâm trí lão.
     Trường tiểu học Kỳ Ngọc nằm chơ vơ giữa cánh đồng mía bạt ngàn. Sông Bình Long lượn lờ giữa hai bờ lau lách. Cầu Trọng đong đưa, ghép bỡi thân tre già bạc thếch. Đường đất nắng bụi mưa bùn. Nhà ông Đốc Thiên nghiêm cẩn rêu phong, tiếng chó sủa vang mỗi lần đi học ngang qua. Những bụi đùng-đình lá xoè vươn cao nhọn hoắt.
     Cuối thập niên 50. Trường tiểu học mái ngói đầu tiên của xã Kỳ Ngọc (Điện Phước, Điện Bàn). Chỉ có ba lớp: Nhất, Nhì, Ba. Thầy Trợ Lập, hiệu trưởng. Thầy Phấn, lớp nhất.Thầy Tân, lớp nhì. Cô Cúc, lớp ba.
     Lũ học trò chân không dép. Nhưng các thầy mang giày, quần dài đen áo sơ-mi trắng thẳng nếp. Cô Cúc mặc áo dài lụa thướt tha.       
     Những bồn hoa phù dung sớm nở tối tàn, sấn trường không bóng cây. Tiếng xe mobilette của thầy Phấn lè xè, phịch phịch…
      Cha chuyển lão từ Đà Nẵng về. Xin thầy Trợ Lập, vào học lớp nhì. Lão Bang giật mình khi Đỗ Cả vỗ vai: Làm chi thừ người ra rứa? Lão Bang đứng lên ra bộ, hát mấy câu “hát bội”: Như ta đây ứ ư ư…”. Cả đám cười ha hả, đó là hình ảnh Đỗ Cả.
     Lão Bang ngậm ngùi: Tau ngu thiệt, mấy thằng mi xúi dại, biểu tau hát trong giờ ra chơi, bị thầy bắt quỳ: Em yêu cô giáo lớp ba, hàm răng trắng nõn nước da… đen sì”.
     Trần Hoài Thanh kể chuyện bẻ mía trộm, mới tí tuổi đầu cắp đôi con nọ con kia. Nguyễn Văn Diên chết vì quả lựu đạn ở cầu Bình Long, Nguyễn Văn Bảy, Nguyễn Văn Dần hy sinh khi chưa đủ lớn. Thôn trưởng Nông Sơn bị bắn chết cả hai anh em.

     Thất thập rồi, nói chuyện như con nít. Đang nói đằng đông nhảy vọt đằng tây. Gần sáu mươi năm, duyên may gặp lại. Có lần sau gặp lại nữa không? Hỡi các bạn già khú đế của tôi ơi!

EM TÔI

    Từ nhà cô P. Tôi nhìn sang nhà em, vắng hoe. Mùa gặt, hương rạ thơm lan tỏa, gợi nhớ ngày xưa cũ.
     Đường làng vẫn rợp bóng tre mát rượi. Có lẽ em ngoài đồng. Con nắng tháng năm rát mặt, hừng hực. Tiếng xe máy đẩy đưa theo làn gió, tôi định nép mình tránh lối. Ai như em, hiện ra sau khúc quanh. Mặt mũi choàng kín mít, em lọt thỏm giữa hai bao lúa. Chân buông thỏng, rà trên mặt đường giảm tốc, thay phanh.
     A, anh về hồi mô? Tôi kéo phụ xe ngừng. Mồ hôi túa ra ướt đẩm.Khuôn mặt em khắc khổ, nổi bật đôi mắt to, ánh lên tia mừng rỡ. Anh mới về thất thời!
     Tôi giữ xe cho em bước xuống, tay ga vẫn cầm chừng. Hai bao lúa to đùng, bây giờ choán mất chỗ ngồi. Hai anh em đùn đẩy ì ạch lên dốc, vào sân. 
     May có ngọn gió nồm, khô nhanh những giọt mồ hôi. Em tôi lấy chồng xóm dưới, em mới mười bảy. Mẹ tôi khóc sưng mắt ngày em vu qui, nhưng em tôi vô tư không có giọt lệ nào. 
     Tôi không tin được. Từ sớm tinh mơ, gà chưa gáy sáng. Em tất bật với nồi cám heo to tướng. Mồ hôi nhỏ giọt theo từng túm rơm khô vào bếp, vàng rực ánh lữa. Bầy heo thi nhau chồm mỏ, kêu inh ỏi.
      Vén gọn bếp vừa tàn, em xăng xái chất lúa khô lên xe, một bao, hai bao. Tôi phụ em ràng buộc. Chở đi chà, buôn gạo. Em quen rồi, anh nghỉ đi, anh không biết làm mô! Nhìn em tôi ứa nước mắt.
     Tiếng chổi quét ngoài sân, vọng vào lòng tôi nỗi buồn xa vắng. Tối qua, mấy anh em hàn huyên tâm sự đến gần nửa đêm. Em treo mùng, dọn giường, bật quạt, tắt đèn. Tôi nằm mơ màng nhớ về tuổi thơ em và tôi. Mẹ chỉ có tôi và em. Con bé hay vòi vĩnh, hay nủng nịu là em tôi bây giờ sao? Tôi thiếp đi trong bồi hồi, tiếng côn trùng rả rích quanh tôi.

GIỖ CHA

    Mấy chục năm tha hương. Mỗi năm hai lần giỗ, anh em chia nhau. Mười năm giỗ mẹ, cha còn.
     Nhưng đất khách quê người, quạnh hiu, vắng thân yêu cật ruột.
     Năm nay em rủ anh về quê. Giỗ cha tại nhà từ đường. Nền đất cũ, một thời ấu thơ, tung tăng chạy nhảy. Nhìn về hướng làng Bất Nhị, bàu súng hoa nở viền tím rung rinh trong nắng sớm. Mây trắng giăng ngang đỉnh núi, êm ái trải dài như dáng mẹ nằm, xỏa tóc bao năm. 
Vết sẹo trên trán em, cánh tay cán vá của anh, nghịch ngợm trèo lên cây đa tìm bắt chim non mà ra. Cây mít cỗi, hàng cau quá già lặng im, nhưng hàm chứa bao nỗi lòng ly tán.
     Tất cả anh chị em, một đời lam lũ. Tất bật, dậy từ chưa sáng. Tiếng gà bị túm cổ bất thần, ré lên hoảng hốt. Bếp lữa bừng lên, những chiếc bóng chập chờn tíu tít. Giỗ bác, giỗ chú, giỗ cậu. Mấy khi có dịp được dâng nén hương lòng. Ai cũng hân hoan, anh ngồi nhìn, nước mắt rưng rưng.
     Chị Năm, nay gù lưng hơn năm trước, quét dọn trong ngoài. Các bàn thờ đã sạch sẽ tinh tươm. Những lọ hoa phượng vàng, anh Ngộ đã chuẩn bị từ hôm trước.
     Anh và em như khách. Không ai cho anh đụng tay bất cứ việc gì, ngoại trừ thắp hương đảnh lễ. Lễ cầu siêu từ sớm, tiếng chuông mõ vọng kinh âm vang.
     Nhà mình còn ba cô, một chú. Ai cũng trên chín mươi. Hom hem. Gần nhau chỉ gần cây số, vậy mà mười mấy năm, anh chị em không gặp nhau. Anh định thuê người võng, mời đến từ đường, cô chú gặp và nhìn nhau. Nhưng không ai bằng lòng. Đường làng nhỏ hẹp quanh co, ngại bước chân người.

SIÊU THOÁT

    Anh Hàn chết do đai cuốc phang ngang, anh thụp xuống, trúng gáy. Đám đầu trâu mặt ngựa, không biết ất giáp gì. Cứ đấm, cứ đá. Ruộng nhà anh bị cướp. Anh Hàn phản đối, vợ anh quỳ lạy như tế sao. Anh vẫn chết.
     Cả nhà uất ức, bọc túi nylon trong suốt, phơi xác anh ngoài trời. Khiêng xác anh lên huyện. Vợ con anh như cái đuôi, những giọt nước mắt rơi nửa chừng, không thấm đất. Chỉ còn nghe tiếng khóc rấm rức. Cả tuần nay, những giọt lệ đã khô queo.
     Quan Huyện sai thầy giáo Phẩm đi khuyến dụ, kéo theo đủ ban bệ. Quan huyện hứa đền bù, không bắt tội vợ con anh Hàn, nên đem về chôn cất. Lý trưởng Kiết sẳn sàng cho miếng đất rìa làng, có người tống tiễn vong linh anh tử tế.
     Chị Hàn cúi đầu chào thầy giáo Phẩm. Thầy đã gần suốt đời dạy dỗ phẩm hạnh lẫn tri thức. Học trò thầy, mấy thế hệ làm quan to. Thây là cây đa cây đề.
     Nãy giờ chị Hàn im lặng lắng nghe, cung kính như phụng mệnh. Bỗng chị đứng lên, khoanh tay, cúi đầu: Thầy đã dạy vợ chồng con thấm nhuần đạo thánh hiền, công bằng xã hội, tình người êm ái bao dung, lòng trong sáng như sao Khuê...
     Chị Hàn ngước mắt, thầy giáo Phẩm cùng tùy tùng đã đi tự lúc nào. Chỉ còn xác anh Hàn đang trương phình. Hình như linh hồn anh bị tù túng trong xác phàm. Khó mà siêu thoát.


HỌC TRÒ TÔI

   Cuối thập niên 79, đầu những năm 80. Người tứ xứ tụ về từ miền trung xa xôi: Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam, Đà Nẵng… Họ đã rời xa làng quê yêu dấu. Dù nơi chôn nhau cắt rốn, nhưng không thể dung thân. Tha phương cầu thực, rồi gặp nhau  nơi vùng đất hứa: Ngã ba Dầu Giây (Xã Bàu Hàm 2, Thống Nhất, Đồng Nai)
     Mùa mưa miền đông Nam bộ, chỉ thấy đất ba-dan nâu đỏ nhão nhoẹt. Những vườn chôm chôm, sầu riêng xơ xác. Cứ vào khoảng cuối thu, lá cao su chuyển từ  xanh sang vàng, rồi màu đỏ trước khi rụng. Đẹp và thơ mộng hơn rừng phong Bắc Âu.
“Người lên ngựa, kẻ chia bào
 Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san
(Kiều-Nguyễn Du)


     Những mái nhà tre lá, bên bìa rừng cao su. Ngã ba Dầu Giây – Giao lộ QL1A-QL20. Từ đây ngược hướng bắc về miền trung, Nha Trang, Đà Nẵng, Huế, cổ thành Quảng Trị, Quảng Bình… Hà Nội. Ngược lại, Hưng Lộc, Trảng Bom, Hố Nai, Biên Hoà, Saigon. Ai về Đà Lạt, Lâm Đồng,Tây nguyên theo QL.20.
     Rừng cao su trơ cành, xếp hàng thẳng tắp. Mùa cao su lá rụng là mùa cảm sốt, chưa hết mùa mưa. Nhưng cũng là mùa tựu trường. Học trò tôi, từ ấp Nguyễn Thái Học, Phan Bội Châu, Ngô Quyền, 97, Gia Nhan... Những đứa trẻ ngơ ngác, chân không dép, theo đường mòn băng ngang rừng cao su. Những chiếc xe đạp trơ khung, bùn đất đỏ bám đầy hai bánh xe lăn trượt. Em nhịn ăn sáng, buổi sáng chẳng có gì ăn. Cha mẹ đã ra lô cao su từ sớm.
     Tuổi mười hai, mười ba thay cha mẹ. Đi chợ, nấu ăn, ru em… đi học. Học trò tôi không có khai sinh, không hộ khẩu. Gia tài cỏn con, đã tôi tuột. Từ ngày di tản.
      Tiếng còi lê thê của nông trường cao su Dầu Giây, bật dậy những đôi vai còm cỏi. Mủ cao su theo vết cạo chầm chậm ứa, nhỏ từng giọt âm thầm, như những giọt nước mắt thời bỉ cực.
     Những gia đình một thời đã sống nơi “Quê hương tôi nghèo lắm ai ơi, mùa đông thiếu áo hè thời thiếu ăn”, nhưng an bình, thắm đượm tình người. Chiến tranh đã đi qua, lại ngậm ngùi giã từ. Đến những nơi còn đầy bom mìn, lạ lẫm. Mưu sinh bằng nghề làm rẫy, phu cao su như thời Pháp thuộc:
Đem thân đổi mấy đồng xu
Thịt xương vùi gốc cao su mấy tầng
     Rừng cao su ra lộc non, sau mùa đông trụi lá. Báo hiệu mùa xuân ấm áp, cũng chớm sang mùa khô. Dọc hai bên đường, hoa đào hoang tím nhạt, lung linh trong gió.

     Từ phương trời xa ngái. Sau bao năm lưu lạc, các em đã về họp mặt bên nhau. Gợi nhớ trong tôi, một thời nghĩa tình ấm áp. Thầy chỉ có chút vốn liếng trong đầu. Thầy chẳng có gì để cho.

Thứ Tư, 3 tháng 1, 2018

THỜI TRUNG HỌC

    Trường Sao Mai đã cho tôi biết bao kỷ niệm êm đềm. Một anh học trò nhà quê ngớ ngẫn, tự ti. Mặc dù là ngôi sao tỉnh lẽ! Sự hoà nhập thật khốn khổ. Cuối năm đệ nhất cấp, chẳng để lại ấn tượng gì. Ngoại trừ những lần ê mặt, vì không cân bằng được phản ứng hoá học, không giải được phương trình bậc 2! Chỉ còn nhớ:“ Tình Delta âm vô nghiệm muôn đời…”



     Đêm Noel cùng bạn bè mới tung tăng, nhẩm kinh Phật thay vì kinh Thánh. Sao Mai là trường Công giáo, ai cũng có tên Thánh. Bạn bè đặt tên thánh cho tôi là… ”Luxiphe”. Tôi hãnh diện với tên Thánh, mặc dù không biết ông Thánh ấy là ai!
Linh Mục Vũ Như Huỳnh

    Cha gầy dựng sự nghiệp. Mở xưởng mộc cỏn con, quy tụ con cháu chạy loạn từ quê ra… anh Bồng, anh Ghè. Anh Ngộ sốt rét vàng da, bủng beo, học bào học cưa. Cha mẹ bao bọc cả nhà chú Dần, cô Ngũ…Thuê nhà cho gia đình bác Xứng. Anh Hiệp học may, em Bình đi ở đợ nhà dì Chín, chú Dần bán phở dạo.
     Một lần đi học về, gặp lại cô bé ngày xưa T.H – H. học trường Bồ Đề. Đưa nhau về ngang nhà, đường Phan Chu Trinh rồi thôi. H. về khu định cư An Hải, bên kia sông Hàn - qua cầu Trịnh Minh Thế (cầu Trần Thị Lý)
     Những ngày nghỉ học, tôi đạp xe lang thang qua An Hải. Đi trên đường cát hun hút, với tiếng vi vu của phi lao, đến tận bãi tắm Mỹ Khê.

     Anh Bồng, anh Ghè bị bắt lính. Cha bó tay vì không có thợ. Đổi nghề, cùng bác Hương Ngân làm hương. Cha đi bộ xuống chợ Hàn, mua hương liệu, tăm nhang, bảo tôi chở về. Tôi xấu hổ sợ gặp bạn bè… Mẹ đi làm sở Mỹ. Chiều nào về cũng có quà, hôm thì socolate, kẹo, đồ hộp. Em Ngọc đi học nửa chừng thì nghỉ, cha cho học nghề may. Em Lũy vào lớp 2.
     Cậu Bốn (Đa) và chú Thành thầu giặt đồ Mỹ. Tối về cả nhà thi nhau lục túi quần, túi áo, có khi đồng hồ, bút máy, tiền đô. Cả nhà se nhang, dán bao hương, vào bao đi bỏ mối, hàng xóm cũng làm gia công…
     Niên khóa 1965 – 1966, tôi học đệ Tứ. Nhờ cô Bạch - thu ngân trường Sao Mai, giới thiệu đi dạy kèm, bây giờ gọi là gia sư. Đã bắt đầu có bạn đến nhà chơi,Vĩ Văn Thông, Tôn thất Hoàng Tú, Trần Đình Định, Lê Quang Chính (con thầy Lê Cần). Sau này, Thông -  pilot trực thăng, Tú học y khoa Huế ra bác sĩ, Định luật sư ở Mỹ, Chính - giáo sư, dạy ở Singapore.



    Năm 1966 – Phật Giáo xuống đường.Tất cả trường ở Đà Nẵng bãi khóa. Các thầy cùng bàn thờ Phật Tổ, tràn ngập các con đường Ông Ích Khiêm, Phan Chu Trinh, Hoàng Diệu… Lực lượng TQLC từ Saigon bay ra trấn áp. Thành phố Đà Nẵng như bãi chiến trường.
    Một tuần mấy lần, Định lên rủ nhau tắm biển Mỹ Khê. Cha Định là ông Trần Quốc Thái, con nuôi Ngô Đình Cẩn, quận trưởng Điện Bàn. Sau ngày lật đổ Ngô Đình Diệm 01.11.1963, ông Thái ở tù, nhà cửa bị tịch thu. Định là bạn thân nhất của tôi.
     Thầy Vĩnh Linh, Thầy Thanh dạy toán, Thầy Trần Đại Tăng (nhà thơ Trần Hoan Trinh) dạy đại số, Thầy Hương dạy lý hóa, Thầy Lê dạy sử địa, Thầy Đoàn Đức Triệu dạy triết, Cô Điểu dạy vạn vật, Thầy Hoàng Ngân Hà dạy anh văn, Cha LM Vũ như Huỳnh dạy pháp văn…Thầy Vĩnh Linh sau năm 1975, đại biểu Quốc hội.

     Ngày đám giổ ông Ngoại. Tôi lén lấy xe mobilette của chồng dì ba Cẩm, dắt ra đường đạp nổ máy, chạy một mạch đến ngã tư Phan Chu Trinh – Lê Đình Dương. Chạy quá nhanh, khi rẽ sang đường bị ngả chổng vó lên trời, trầy xướt chân tay, xe quẹo cổ. Tôi cố dắt về nhà. May mà các cụ đang nhậu chẳng ai hay!
      Anh em trong nhà hơn kém nhau vài tuổi, như Lực (con dì Năm – mất năm 2011), Thạnh (con dì Bảy), Vân (con cậu bốn Đa – mất năm 1972). Ai cũng thương Vân, vì Vân là cháu nội. Tôi ra đời sớm nhất trong các cháu, nên được ưu ái của các dì, các cậu chưa vợ chưa chồng. Đi học về không ngủ trưa, chân không mang guốc, là chết với dì Chín, cậu Nghĩa!



Từ trái: Cậu mợ Lê Văn Nghĩa & Đặng Thị Huệ và anh chị Trần Thanh Ngọc (Quảng Ngãi) 

     Cậu Nghĩa (nhà thơ Tô Yên/ Lê Việt Nguyên) mua sách cho tôi đọc, rồi kể lại cho cậu nghe. Ngày dì Chín về nhà chồng, dì dắt theo tôi và Vân. Bắt ngủ bên dì trong đêm tân hôn. Hai đứa ngủ say như chết. Sáng ra dì dắt về sớm, không biết chuyện gì đã xãy ra! Cậu Ngãi có bồ (mợ Xuân sau này). Đi dạy về, cùng bạn bè đánh bài cả ngày chủ nhật. Tôi và Lực ra đường “cảnh gíới”, nếu thấy bồ cậu lên, chạy vào báo động. Hai đứa ham bắn chim, quên mất phận sự. Bồ cậu vào nhà, thấy bốn thầy say mê với mấy con bài, bỏ ra về. Vậy là hai thằng vô tích sự, bị trận đòn tơi tả!

    Khoảng năm 1966 – Cậu Ngãi cưới vợ. Mợ Xuân, con nhà danh giá nhất Đà Nẵng, học trường Tây. Cậu làm Précepteur (gia sư) rồi “cua” được mợ.
     Thời cuộc đảo điên, nghề làm hương, không phải là nghề của cha. Con cái vô tư, chỉ biết ăn và học. Mẹ sớm đi tối về… Anh Tâm được cha mẹ nuôi ăn học từ lớp đệ Thất. Chú mười Thi lang bạt kỳ hồ. Ông bà Nội mất khi chú còn nhỏ, chú ở với cha mẹ tôi. Chú đi học may, rồi cưới vợ. Có lẽ chú không yêu, sau ngày thành hôn chú bỏ nhà lên Đà Lạt. Thím mười Thôi cũng vào Saigon, đi làm thuê. Chỉ có mẹ gánh hậu quả, không sinh mà có dưỡng. Nuôi em Thu từ ngày đỏ hỏn đến năm, sáu tuổi. Thím về xin dẫn đi…

         Niên khóa 1966 – 1967, đệ Tam. Thêm nhiều bạn bè mới. Lớp đã phân ban. Một số học sinh giỏi, được chuyển vào trường Phan Chu Trinh. Thêm môn tiếng Pháp, do Cha Vũ Như Huỳnh phụ trách. Cha là hiệu trưởng, nên đứa nào cũng kính sợ. Tôi là học sinh chăm chỉ có hạng của lớp, Cha Huỳnh cầm cây bút chì hỏi: “ – Qu’est ce que c’est?” Tôi lúng túng, nghe văng vẵng…xích lô, vội trả lời:”- C’est…tông xích lô (un stylo)! Cha nghĩ tôi nghịch ngợm, thật ra tôi chẳng biết gì!
     Cha cho đi học thêm Anh văn ở Hội Việt Mỹ, học thêm toán thầy Trần Đại Tăng (nhà thơ Trần Hoan Trinh). Lê Quang Chính (con Thầy Cần – dạy Anh văn) cùng lớp, nói giọng tôi đọc tiếng Anh như tiếng… Pháp. Cha mua cho chiếc xe đạp mới, bị xe jeep của thầy giáo Mỹ cán quẹo cả vành. Tôi bắt đền, đem hết khả năng tiếng Anh sẳn có, kèm theo tay chân, vậy mà chỉ nhận được câu:”I don’t understand

    Vào đầu năm học, Đà Nẵng rúng động vì chuyện thầy Vinh Anh – Hiệu trưởng Phan chu Trinh. Thầy coi thi, bị thí sinh đâm chết ở Nha Trang. Hầu hết học sinh các trường đi đưa tang Thầy.
    Năm đệ Nhị (1967 – 1968) là năm ghi sâu đậm nhất thời trung học. Nhóm bạn thân cùng tranh đua học tập và họat động báo chí.
    Chị Hồ Thị Ngọc Chánh luôn nhất lớp, Tôn Thất Hoàng Tú, Vĩ Văn Thông, Phan Thị Thu Thanh, Nguyễn Thị Hồng...  Hồng to béo, thường mang thức ăn đến lớp, thân thiện với tôi trên mức bình thường, bạn bè trêu chọc :”L.19 chơi với B.52
                  Những ngày ôn thi Tú Tài 1, Hồng đến nhà học chung. Hồng dạn dĩ thích chơi trò yêu đương hơn học. Có những lúc gần vượt quá giới hạn, tôi nhút nhát không dám dấn thân. Nhưng rồi Hồng bỏ thi, về Nha Trang, sau đó  được biết Hồng sinh con! Nếu…
                 Thi đậu tú tài 1, cha rất vui. Hai cha con đi bộ xuống ngã năm, qua đường Hoàng Diệu. Cha mua chiếc xe Vélo - Solex mới toanh! Tôi mừng hết biết, đổ xăng chở cha về nhà… Thầm cám ơn cha.
                 Bây giờ nhớ lại. Tôi là đứa con bất hiếu. Một lần cha nói chở đi tìm mối bán hương ở chợ Hàn. Trời mùa đông rét mướt, gió sông Hàn thổi lên lạnh buốt, cha khoát áo măng-tô cũ, vừa đi vừa ho, tìm không được mối nào… Trong khi tôi e ngại nhìn quanh, xem có bạn nào bắt gặp mình không! Từ đó, cha không nói chở đi nữa. Tuổi mười lăm, mười bảy chỉ mghĩ về mình, cơm áo gạo tiền ỷ lại cha mẹ, đôi lúc xin tiền rong chơi, cha mẹ không cho, mặt còn phụng phịu.“ Đến khi có gia đình, có con và con đã trưởng thành, chưa hiểu hết lòng cha mẹ”.
                 Ôi ! công ơn cha mẹ cũng thấm dần và thấu hiểu theo thời gian. Mỗi ngày mỗi khác, sâu đậm ân tình, nặng trĩu lòng. Theo suốt đời bôn ba danh lợi, mưu sinh.
                 Cha mẹ ơi! đến khi con hiểu, cha mẹ không còn nữa. Dưới tuổi ba mươi quanh quẩn bên mẹ, nặng tình với mẹ hơn cha. Tuổi năm sáu mươi nặng tình cha hơn mẹ. Sự nghiệp một đời, theo gương bươn chải của cha.“ Đi khắp thế gian không ai tốt bằng mẹ, gian khó cuộc đời không ai khổ bằng cha“. Ngẫm nghĩ sao mà đúng quá.
                 “ Tiền bạc là của con, địa vị là tạm thời, vẻ vang là quá khứ, chỉ có sức khỏe là của mình.
                 Cha mẹ yêu con là vô hạn, con yêu cha mẹ là có hạn.
                 Con ốm đau cha mẹ buồn lo, cha mẹ ốm đau con nhòm một chút, hỏi vài câu là thấy đủ rồi.
                 Con tiêu tiền cha mẹ thỏai mái, cha mẹ tiêu tiền con không dễ.
                Nhà cha mẹ là nhà con, nhà con không phải là nhà cha mẹ”
      Khi hiểu đời, ta coi việc lo liệu cho con là nghĩa vụ, là niềm vui, không mong báo đáp, chờ báo đáp!

                  Năm 1968 - Tết Mậu Thân, súng nổ khắp thành phố. Nhà tôi trên đường Phan Châu Trinh, gần Quân đoàn I (Quân Khu 5). Chiến sự nổ ra khắp các đô thị miền Nam… Quanh doanh trại, thây người chết cong queo.

    Phạm Văn Đức có xe Honda 68, giống con ngưa trời, thường đến nhà rủ tôi đi học. Nhưng rồi Đức thi hỏng tú tài 1, biệt tăm.
      Sau kỳ thi, một số lên đường nhập ngũ, “Rớt tú tài anh đi trung sĩ…”. Năm đệ Nhất (1968 – 1969). Ba mẹ Thái nhờ tôi xin chuyển trường cho Thái và Bình. Từ trường Bồ Đề qua Sao Mai. Học đệ Thất cùng với Lũy.

     Cuối năm, chuẩn bị thi tú tài 2. Tôi thay mặt học sinh toàn trường đọc diễn văn cám ơn các cha, các Thầy Cô đã dày công dạy dỗ… Đặc san Hành Trình của trường Sao Mai  ra đời, đã mang theo những bài văn, thơ vụng về của tuổi học trò…



TÌNH YÊU SA MẠC

Về thành phố một lần xa thành phố
Tìm hoàng hôn trong đáy mắt người yêu
Tôi bỗng dưng ghê sợ những buổi chiều
Miền âm hưởng tình yêu khô đọng hẳn

Hôm tôi về xuôi chân miền sa mạc
Nghe tình yêu ấm lại cát mùa thu
Người đã lỡ theo đường về bến khác
Tôi cô đơn lạc lối bụi sa mù

Người bên ấy nghìn trùng sao gặp gỡ
Thân lạc đà xin làm kiếp thân chim
Miền biển động chim vỗ mình than thở
Rồi mùa xuân chim lặng lẽ đi tìm

Người âm thầm về rừng thiêng lạnh lẽo
Nhưng chim trời tung cánh lạc loài xa
Miền hải đảo chim xin dành cuối nẻo
Sa mạc vàng chim đơn độc bay qua

Rồi một sớm người tìm về sa mạc
Tháng ngày qua xoá hẳn dấu chân người
Mỏi cánh ngang trời thân chim xơ xác
Rồi máu đào nhuộm đỏ cát vàng tươi
(1969)

     Mối tình đầu chớm nở. Tôi đã biết nhớ nhung em Thái. Những trang nhật ký gói ghém tình yêu thương cô bé hàng xóm, tự lúc nào. Đêm khuya nhìn sang bên Út (anh trai Thái) đang ôn thi tú tài 1, em đã ngủ say. Một lần tôi tìm cớ sang nhà, nhìn em và em đã hiểu khi em đọc trộm những trang nhật ký…lời tỏ tình ngây ngô của tôi.
    Tôi đậu tú tài 2 trong niềm tự hào và vui mừng của cha mẹ, người thân. Năm đứa cùng thi, chỉ mình tôi đỗ! Nhưng Thái lại buồn vì sắp cách xa. Những giọt nước mắt của em đã nói lên nhiều điều và ai cũng hiểu lòng em! Em chưa tròn mười sáu…

      Tháng 8/1969. Cha dắt tôi ra Huế. Kèm theo thư giới thiệu của Cha Vũ Như Huỳnh, gửi Cha quản lý cư xá Xavier, nhưng đã hết chỗ. Cha gửi trọ nhà anh ba Hóa, trên đường Chi Lăng, gần chùa Tàu. Nhà anh ba Hóa có cô Thu, bên chùa có cô Cơ. Hai cô đang học đệ Tứ trường Chi Lăng. Thỉnh thoảng nhờ tôi hướng dẫn làm bài tập…


     Tôi ghi danh học chứng chỉ SPCN, tại trường Đại học Khoa học. Từ năm này, trường Đại học y khoa Huế không tuyển dự bị, chỉ tuyển  các sinh viên đã có SPCN. Tôi hy vọng năm tới sẽ bước chân vào trường Đại học Y khoa, thỏa niềm mong ước của cha mẹ.
      Nhưng đến tháng 10, cha gọi tôi về Đà Nẵng, chuẩn bị đi học Saigon. Cha gửi trọ nhà chú Thơm, gần cầu Phan Thanh Giản (Cầu Điện Biên Phủ), ấp Nhất Trí 3, Gò Vấp, Gia Định. Mấy năm trước gia đình chú Thơm ở Đà Nẵng, cùng xóm. Có em Nga, Mỹ. Nga đang học lớp đệ lục trường Văn Hiến, Đa Kao. Mỹ học lớp nhì. Thím Thơm bán tạp hóa, chú làm việc tại Bộ Tổng Tham Mưu. Cha gửi tiền mua xe Mobilette đời mới (Motobicane) để đi học.
     Tôi nộp đơn thi Y khoa Saigon, hỏng! Ghi danh SPCN ở Đại học Khoa học, hy vọng năm tới sẽ thi lại y khoa.
     Những ngày ở nhà chú Thơm, ngoài thời gian đi học, tôi phụ giúp thím đi mua hàng, chợ Cầu Ông Lãnh. Tối kèm em Nga, em Mỹ học hành. Nga rất dễ thương hay nhỏng nhẻo, nhưng không chăm học. Đã biết làm dáng, mặc dù mới học đệ ngũ. Đôi khi chở em đi học, em đòi chở đi chơi, tôi cũng muốn mà không dám! Đêm ngồi học bài và kèm em học, nhưng chẳng học được gì. Em cứ gối đầu lên sách, nhìn tôi…
      
    Những ngày sắp Tết (Canh Tuất – 1970). Sau mấy tháng cách xa, những lần hẹn hò cùng Thái trốn học. Ghi đậm thêm tình yêu thơ dại trong em. Ra Tết vào lại Saigon, tâm hồn trống rỗng. Tôi cảm thấy ở lại nhà chú Thơm sẽ không tiện, nên xin xuống nhà cô Phụng. Nhà cô dượng thuê chỉ có hai mấy mét vuông. Cô dượng đi làm thợ hồ, sáng đi tối mịt mới về. Em Phụng (mất 20.5.2016) đã lập gia đình, có hai con nhỏ, cháu Tuấn hai tuổi, cháu Trinh mới sinh, chồng trốn quân dịch. Hoàng học lớp ba. Tôi và Hoàng thay nhau giữ cháu…
    Sau này đi dạy kèm, có tiền ăn và mua sách vở, đỡ cho cha mẹ phần nào
     Thím mười Thôi về dắt em Xuân Thu vào Saigòn, tìm cho tôi chỗ ở mới : 10 A Lương Hữu Khánh, Q3…


     Những ngày đầu năm 1970, tình hình đấu tranh, xuống đường của sinh viên Saigon sôi động. Giảng đường trống vắng, bãi khóa triền miên.
     Chưa kịp thi. Tôi chán nản bán xe máy để làm lộ phí về quê. Ghé chợ Bến Thành, mua tặng cha chiếc mũ nỉ, cha chửi: Đồ phá của!

TRĂNG TREO MÁI LÁ

Tôi đi loanh quanh vì không biết đường, vác trên vai bao tải nặng trịch. Bỗng nhiên cô gái từ trong nhà bước ra chận đường: - Anh tìm ai mà...