Thứ Năm, 19 tháng 7, 2018

SAO BĂNG



      - Ông nhìn xem, như đã vào đông!
     Khung trời một màu trắng đục, cây lá ủ dột im ắng, không gian thật tỉnh lặng. Tiếng gà gáy trong vườn cây kiểng trước nhà, gợi bà nhớ xa xăm mơ hồ.
      - Bà có gì buồn?
      - Ông không thấy con gái mình đang lo lắng điều gì hay sao?

     Ông nhìn ra cây hoàng lan, mùi hương lan toả. Những sợi như tơ trời màu bạc, ẩn hiện trong mái tóc bà. Mái tóc ấy, một thời ông mê đắm. Ông yêu bà từ mái tóc đến nết người, dù bà không đẹp. Bù lại ngày tháng qua đi, ông càng thấy đức tính nơi bà lộ dần qua cung cách đối nhân xử thế. Sự nể trọng bà trong ông âm thầm, “đàn ông cái nhà, đàn bà cái cửa”. Con cái thuận hoà, em ngã chị nâng.
     Ngược lại, bà đối với ông “tương kính như tân”, chăm sóc ông từng li từng tí, thậm chí Hà - cô con gái lớn hay đùa:
-         Ba như em bé!

     Ông tự hào và yên lòng với sự lo toan của bà, chính bà tề gia để có ngày ông lo trị quốc. Nói vui vậy thôi chứ ông trị cái gì, khi thời thế thay ngôi đổi chủ, số phận ông cũng lên bờ xuống ruộng. Ông thấm bài “thương vợ” của Tú Xương, ông ngâm nga góp vui với bạn bè khi trà dư tửu hậu, hàm ý nói về bà:

 Quanh năm buôn bán ở mom sông
Nuôi đủ năm con với một chồng
Lặn lội thân cò khi quãng vắng
Eo sèo mặt nước buổi đò đông
……..
     Hà xong tiết dạy, Hưng đón chị trên hành lang. Linh cảm có điều bất thường, hai chân Hà run lên. Hưng mỉm cười:
-         Em thích đón chị về, thế thôi!
     Hà choàng vai em, thì thầm:
-         Chị thấy mẹ có gì không vui?
-         Nhà này cũng lạ, mẹ bảo thấy chị có gì buồn, chị
bảo mẹ không vui!
     Ngang chợ, Hà mua mấy ký cam, mùa này cam sành Cái Bè mọng nước. Mẹ cần kiệm, “ăn mắm mút dòi”, dành cái ngon cho ba và chị em mình.
     Căn nhà vắng, cả hai cùng gọi mẹ. Trên bàn ăn đã sẳn hai ly cam vắt, mẹ lui cui trong bếp, nồi canh chua đang sôi. Cam mẹ mua rồi, mua thêm làm gì phí tiền. Hưng ôm lưng mẹ, Hà cười vang:
-         Em bé của mẹ đâu rồi?
     Thật ra, Hà có nỗi buồn nẫu ruột, không muốn lộ ra ngoài để mọi người lo lắng, thế thôi.
     Tình yêu của Hà đơn phương, vướng màu nghiệt ngã. Người ấy như thanh nam châm, cuốn hút lấy Hà. Hà gục đầu vai mẹ thổn thức, bà vuốt tóc con xót xa nhưng không hỏi một lời. Sự tin cậy vào tấm lòng của mẹ là niềm an ủi, chia sẻ lớn lao với Hà. Ngày xưa bà cũng yêu ông như thế, nhưng may duyên nợ trọn tình, nên chồng nên vợ.
     Phần ông, ông để hết tâm trí vào chuyện văn chương. Ông đã trị quốc, bình thiên hạ bằng ngòi bút, cả thế gian quay cuồng theo ngẫu hứng và sắp đặt nơi ông. Nhưng ông không thể cứu rỗi linh hồn con gái yêu dấu của ông.
     Hưng ít nói nhưng thâm trầm, luôn quan tâm đến mọi người và hiểu cha. Nụ cười là thủ tục đầu tiên, khi hai cha con gặp nhau. Hưng trêu:
-         Em bé của mẹ uống thuốc chưa? Thuốc chị Hà
mua đó!
     Thật ra, là của Hưng. “Chị Hà” có uy lực tuyệt đối với ông, chỉ thua “chị Mẹ”.
     Ngày Hưng được học bổng du học Hoa Kỳ, bà vừa mừng vừa lo, vừa buồn. Ông ôm bà vào lòng, lau dòng nước mắt, ông đùa:
-         Em bé của ba vui lên chứ! Nam nhi phải tung
hoành,“Chí làm trai nam bắc đông tây. Cho phỉ sức vẫy vùng trong bốn bể”.(NCT)
     Hưng chưa tốt nghiệp, bà mất. Ông như rơi từ chín tầng mây, ông ngập chìm trong mộng du. Tô mì ăn sáng của Hà không có múi chanh, lát ớt xắt rất khéo của bà. Không có bóng dáng, bàn tay của “chị Mẹ”, đời ông vô vị.
     Ông ngồi thừ trước trang giấy hằng đêm, không viết được gì. Hình ảnh bà quá lớn, tình yêu thương của bà với gia đình bé nhỏ như đại dương mênh mông. Gái có công, chồng nào nỡ phụ hở bà? Từng giọt nước mắt của ông rơi lên trang giấy, lan rộng thấm đẫm thành những vì sao u buồn, bầu trời sáng trắng một sao băng…

KHÔNG CHÂN KHÔNG


Ông Hâm quay sang Nhị Nguyên:
-         Có khi hắn điên!
     Hắn đây là lão Tam, trong mắt ông Hâm, những gì liên quan đến “Tam” đều đáng tin cậy, nhưng đừng tam sao thất bổn…
     Lão Nhị Nguyên không tán đồng cũng không phản đối, kiểu không gù, không gật có khi lại đắc nhân tâm. Chỉ cần phán đoán “có khi”, có khi lại chết người.
     Nhà triết học người Đức: Immanuel Kant cho rằng nhận thức của con người chỉ biết được hiện tượng bề ngoài, không thể thâm nhập, phán xét được gì về sự tồn tại, vào bản chất đích thực của sự vật. Trong nhận thức cần hạn chế “vòng kim cô” của lý tính để dành cho đức tin và Kant đã đi đến thuyết “bất khả tri”.
     Lão Tam chán thế sự đã đành, lão chán ngấy ông Hâm. Chuyện gì cũng cho là biết, chuyện gì ổng cũng làm thầy thiên hạ. Chán nhưng vẫn là bạn của nhau, vẫn cố “tương kính như tân” để giữ hoà khí, nhưng đôi khi giận hờn nhau tưởng chừng không thể hàn gắn được.
     Cuộc đời của mỗi người như ba chi lưu từ một dòng sông. Địa thế hiểm trở, khiến thân phận ông Hâm uốn mình qua bao thác ghềnh, đồi nương. Có lúc êm ái xuôi về đồng bằng, rồi tách ra trăm dòng nhập vào biển cả. Đang học giữa chừng, lão nhảy ra đăng lính. Sắc lính nào kiêu hùng lão cũng thử, chiến trường nào ác liệt lão đào ngũ. Có lúc lão bị tóm cho ra lao công chiến trường.
     Lão Hâm phân bua lão không hèn nhát, nhưng lão không thích chiến tranh, lão không thích bị nướng. Cái chảo gang to đùng, những con kiến thế hệ lão bò quanh, thỉnh thoảng chạm râu vào nhau để ngậm ngùi thân phận, không biết chảo bị đốt nóng lúc nào, cũng không hề biết ai đun củi vào lò.
     Trong một lần hành quân, lão đi theo tải đạn. Những trái đạn vàng ối phản chiếu tia nắng mặt trời, dội vào mắt lão nổ đom đóm, lão thấy những tia hào quang chói lọi mang hình lưỡi hái của tử thần. Tiếng hô xung phong đột ngột vang lên trong đêm khiến lão bủn rủn chân tay, lão hoảng hồn lùi dần về phía sau. Không biết viên đạn từ đâu, lão bị thương, cắt cụt một chân. Cha mẹ lão tạ ơn trời phật, kiểu “Tái ông thất mã”, hân hoan đãi tiệc mừng lão hồi cư.
     Hoàn cảnh lão Nhị Nguyên lại khác, sinh ra và lớn lên ở vùng đất nửa xôi nửa đậu, cha ông đã mấy đời làm cách mạng, mong chấn hưng đạo đức suy đồi, quốc thái dân an. Chưa đủ lớn, lão đã nhảy rừng, ba phen bốn bận tưởng chừng mất xác.  May nhờ âm đức, ngày hoà bình lão về làng vinh quy bái tổ.
     Cái tên Nhị Nguyên cha mẹ đặt, lại gây khốn đốn cho lão. Bề trên suy luận, Nhị Nguyên nghĩa là hai mang khó xài, nên nói gì đến chuyện lão được tin cậy. Thuyết Nhị Nguyên xem vật chất và tinh thần là nguồn gốc của thế giới, nhưng không ai biết cái nào có trước, cái nào có sau, cái nào quyết định cái nào. Từ đó, lão đâm ra bất mãn ngấm ngầm, nhụt ý chí, chỉ nghe mà tịnh khẩu.
     Càng già, lão Nhị Nguyên cực đoan hết chỗ nói. Những triết thuyết hổ lốn xâm thực sâu dần thành hoang tưởng. Sự hoang tưởng khiến lão mụ mị mê tín, bám víu vào đồng bóng vì mất đức tin. Nhưng những gì đã nhập vào tâm trí lão là chân lý, là kinh điển.
     Một ngày lão sực tỉnh, ôm mối “vạn cổ sầu”: Sinh lão bệnh tử, thời gian như cánh chim bay, ân oán biệt ly, danh lợi như giấc Nam Kha, sang hèn giàu nghèo, dân tình khốn khổ, non nước đảo điên… Lão kháng cự lý thuyết cách tân, sự văn minh chỉ làm hư hỏng tinh hoa dân tộc. Lão tôn sùng nền văn hóa của các dân tộc miền ngược, truyền thống lâu đời từ cách ăn mặc đến sinh hoạt cộng đồng, mang sắc thái nhân bản rõ nét. Nhìn lại thấy mình lố lăng quá cỡ, lão đâm ra tự thẹn.
     Lão Tam thuộc dòng dõi con nhà danh gia vọng tộc, khoa bảng. Ông nội từng làm Thượng thư triều Nguyễn. Khi Bảo Đại thoái vị, cụ giũ áo từ quan, mang theo chút ít gia sản lên thượng nguồn lập chùa, thí phát quy y. Cha lão  xưa kia từng làm quan ngự y, hiệu thuốc Bắc: An Nhiên Đường lừng lẫy, phát đạt một thời ở kinh thành Huế. Lão Tam xuất thân từ trường Thiên Hựu (Institut de la Providence – sau đổi tên thành trường Đại học Khoa học Huế) danh giá. Nhưng số lão không có ơn thiên triệu, xong Bac II lão vào Saigon theo học Văn Khoa. Đời nhà giáo thanh bần nhưng mang danh trí thức, lão bị liệt vào thành phần gia đình quan lại, trí thức tiểu tư sản.
     Ông Hâm thấy đầu óc lão Tam lơ mơ, cho rằng lão uống nhầm thuốc. Ông gãi gãi cùi chân cụt, ngước nhìn lão Tam:
-         Tôi thấy ông đang sống trên mây! Gió chiều nào
ngả theo chiều ấy cho an vui cuộc sống. Thời nào không có kẻ sầu đời hoài cổ… Tôi thuê thợ xây tượng đài cho phần chân bị cắt, nhờ nó tôi được sống…
     Lão Tam lẩm bẩm:
-         Sự đảo ngược chính là sự dịch chuyển của đạo.
 Thái cực tạo ra âm dương, khi dương cực đại chuyển hóa thành tĩnh. Trên nền tĩnh tại, thái cực tạo ra âm. Khi âm cực đại chuyển hóa thành động. Sự tuần hoàn của động và tĩnh là nguồn gốc của nhau. Từ sự chuyển hóa của dương và sự kết hợp của âm sinh ra ngũ hành, tương sinh tương khắc…
     Ông Hâm trố mắt, với tầm hiểu biết “thờ chân cụt” làm sao có thể hiểu lão Tam nói gì. Lão Nhị Nguyên lại gật gù.   
     Chính nhờ không được tin cậy nên lão được đi học, càng có tri thức lão ngộ ra nhiều điều trái ngược hẵn với mớ lý thuyết, một thời mê muội.
     Bất kỳ quan niệm sống nào không dựa vào nền tảng đạo đức lâu đời của cha ông đều bị lệch lạc. Người có trí nhưng không có đức là kẻ ác, sự lợi dụng dân trí thấp kém để mưu toan lừa lọc, hại nước hại dân đáng đem tùng xẻo.
      Nhớ thời gia cảnh nghèo rớt mồng tơi, hơn sáu mươi năm về trước. Ông thân sinh của Nhị Nguyên làm tá điền cho gia đình cậu Tam, lãnh thêm bầy trâu năm con về “nuôi rẽ”, trâu sinh nghé được chia đôi. Năm Ất Dậu, nạn đói hoành hành, nông dân làm ra hạt lúa mà không có gạo ăn, cả ba trâu nái nhà Nhị Nguyên đẻ cùng một lượt. “Ruộng sâu trâu nái không bằng con gái đầu lòng”,  nhưng tuồn ra thằng cu. Ông xin quan Thượng thư ban cho cái tên: Nhị Nguyên ra đời từ đó.
     Thời ấu thơ lam lũ, Nhị Nguyên vui cùng bầy trâu suốt ngày lêu lổng, nhưng vốn tính hiền lành được cả nhà quan Thượng thương mến, bảo bọc cho đi học cùng cậu Tam. Gần xong tiểu học, đất nước chia đôi, cha tập kết ra Bắc, mẹ con Nhị Nguyên được quan Ngự y thương tình đem về phụ giúp việc nhà. Nhị Nguyên được ăn trắng mặc trơn phổng phao ra dáng công tử. Lạ đời, so với cậu Tam èo uột như thầy với tớ.
     Đầu thập niên 60, miền quê nghèo đượm tình làng nghĩa xóm không còn bình yên, Nhị Nguyên lên rừng. Một đêm gần sáng, Nhị Nguyên dẫn  quân giải phóng về làng xử tử hình ông thôn trưởng, giết luôn cả người em đang bắt cá ngoài đồng, hốt hoảng chạy về vì nghe tiếng súng. Gia đình cậu Tam lật đật dọn ra thành phố, bỏ cả cơ ngơi nhà ngói ruộng vườn…
     Ngày hòa bình, không nhờ Nhị Nguyên cản ngăn thì ân thành oán. Người tá điền đã quên tình cũ nghĩa xưa, chỉ còn đọng lại trong đầu nỗi căm thù giai cấp. Tuy tha, nhưng tài sản hiệu thuốc Bắc: An Nhiên Đường của quan Ngự y bị sung công, cậu Tam đưa gia đình lên thượng nguồn nương nhờ cửa Phật, ngôi chùa do cụ Thượng lập nên và quy y trước đó, nay đã viên tịch.
     Thời thế đã đổi ngôi, chủ thành tớ thằng lên ông. Dân Tây học, nhưng cậu Tam rành hán nôm, kinh kệ hơn chữ quốc ngữ. Cậu nghiền ngẫm “Thập niên thụ mộc, bách niên thụ nhân” sao mà thấy mình như “Tỉnh để chi oa”(Ếch ngồi đáy giếng)…
     Nhị Nguyên được chuyển ngành về nông trường dứa. Anh mang ba-lô đi tìm cậu Tam, vùng đồi núi nhấp nhô đưa  anh đến ngôi chùa nằm lặng im dưới chân ngọn  Lam-Heo, Thường Đức. Những con đường mòn một thời khói lửa, rừng nguyên sinh Phước Sơn đã xóa dấu chân người, tiếng chim lảnh lót phá tan không gian tịch mịch của rừng thiêng núi thẵm.
      Quan Ngự y tiên ông đạo cốt, râu tóc bạc phơ như cước. Vơ chồng cậu Tam và bốn đứa con lại lam lũ, từ quần áo  đến nếp sinh hoạt mưu sinh theo dân tộc Cơ-Tu, Xơ-Đăng… nhưng được ông nội dạy dỗ cẩn thận: Văn chương và đạo lý làm người, bên cạnh các môn khoa học kỹ thuật và ngoại ngữ từ cha mẹ chúng. Không đứa nào có khai sinh, nói gì đến học bạ và bằng cấp.
     Nhị Nguyên đưa hai cha con cậu Tam về thành phố. Tất cả đã đổi thay, những tà áo dài trắng thướt tha rộn rã tiếng cười, bừng sáng cả cổng trường ngày nào, kể cả chiếc áo dài màu mỡ gà đã cũ của các dì, các cô gánh hàng rong đã biến mất. Nhị Nguyên  xin cho cậu Tam làm công nhân ở công trường dứa, chạy chọt cho cháu Tam Tòng vào trường dạng “bổ túc công nông” của nông trường như thập niên 60 ngoài Bắc. Nhưng với trình độ của cháu, không thầy cô nào dạy nổi, nên đành cho cháu làm công nhân.
     Sóng dội vào vách đá dưới chân đèo Hải Vân tung bọt  trắng xóa, mưa phùn rỉ rả kèm theo gió bấc len vào lạnh buốt thịt da. Ngoài khơi xa, chiếc tàu xám đen đang lầm lũi hải hành, in trên nền chân trời trắng xóa chấm đen cô đơn như thân phận Tam Tòng.
     “Năm Bính Ngọ vùng đất có đèo Hải Vân thuộc hai châu Ô, Rí của vương quốc Champa. Sau khi vua Chế Mân cắt làm sính lễ cầu hôn Công chúa Huyền Trân đời Trần vào năm 1306, đèo Hải Vân trở thành ranh giới giữa Đại Việt và Chiêm Thành. Phía bắc giáp chân núi có Hang Dơi, gọi là bãi Tiêu, thuyền qua đó hay bị lật chìm:
Đường bộ thì sợ Hải Vân
Đường thủy thì sợ sóng thần Hang Dơi
     Từ đó, vua Trần cho xây dựng cửa ải gọi là Hải Vân quan. Năm Minh Mệnh thứ 7 (1826) sai trùng tu. Cửa trông về phủ Thừa Thiên đề ba chữ: “Hải Vân Quan”, cửa trông xuống Quảng Nam đề:”Thiên hạ đệ nhất hùng quan”.
     Tam Tòng leo dần lên cửa ải hoang phế, mây trắng bay ngang đầu, rơi những hạt nước long lanh trên ngàn cây nội cỏ, trên tóc em bay. Trông về dãy núi xa xa, Sơn Trà như con sư tử già bờm dựng ngược nhìn về Hải Vân quan ngậm ngùi cho sứ mệnh thiêng liêng phòng thủ sơn hà.
    Đêm kia, Tam Tòng lang thang trên bãi biển Thanh Khê. Nhìn ra vịnh Đà Nẵng, biển phẳng lặng ánh lên màu mù sương đêm không trăng sao. Em bị khống chế lên tàu vượt biên…
     Ông Hâm đưa cây “tó” mòn đế cao su lên trời:
-         Tui đâm ra sợ người, cái thằng người hôm kia còn
cười giả lả với mình, sáng nay nó trừng mắt. Tui chống tó quay lui, hắn còn muốn đạp!
     Quan Ngự y đã quy tiên, ngôi chùa dưới chân núi được các sư thầy về tiếp quản. Tứ Đức – em gái Tam Tòng đưa cha mẹ sang Mỹ định cư. Lão Nhị Nguyên gật gù:
-         Nhân tâm, nhân tâm… Thiện tai, Thiện tai.
Không thành danh cũng thành nhân!

MÙA XUÂN NGOÀI KHUNG CỬA


     Lão Tâm lẩm nhẩm:”Giáp Ất Bính Đinh Mậu…”. Năm Mậu Tuất sắp đến, lão 61. Lục thập nhi nhĩ thuận, nhưng sao lão nghe chuyện gì cũng trái tai, gai mắt. Tuổi này rồi, đúng ra, khi nhìn hay nghe thấy điều gì, người ta không những không cảm thấy chướng, mà còn hiểu thấu ngay mọi lẽ. Lão cũng  có học, thấm nhuần đạo đức, kiến
 văn, kinh nghiệm phong phú cuộc sống. Không nhẽ…
     Hình như bây giờ cái gì cũng ngược đời. Thằng ranh con rú ga ầm ầm, lão hoảng hồn nép vào lề đường, hắn còn quay lại cười rú lên, kèm theo:”Đồ già dịch!”.
     Lão đâm ra nghi ngờ cả lời nói, ngôn ngữ hàm chứa ý nghĩa tệ hại chưa từng có:“Lão khốt này hay nhỉ! Già khọm chưa đủ lớn”. Lão rụt rè, xưa nay lão học đạo thánh hiền: Nhẫn nhất thời phong bình lãng tĩnh/ Thoái nhất bộ hải khoát thiên không” (Nhịn được cái nóng nhất thời thì gió lặng sóng yên/ Lùi lại một bước nhường người thì biển trời bát ngát). Nhưng mặt lão Tâm phừng phừng, ngao ngán thế sự, nhân tâm. Lão muốn chửi. Bỗng dưng lão sợ con người.
     Ông Sâm nhìn lão thương hại:
-         Tụi mình đúng là Khottabych - cổ hủ, lạc hậu quá rồi!
……….
     Tiết lập đông, khí trời se lạnh nhưng khô hanh, lá bàng chuyển sang màu vàng nâu, ửng đỏ. Hai ông già như hai cây bàng già cô đơn, trong sân trường trống vắng, càng hiu quạnh hơn với phố phường nhộn nhịp, đông vui. Những “vật thể” phô trương ngồn ngộn, những tượng đài vô tri nhìn xuống dòng đời không cảm xúc. Những công trình công ích bị lạm dụng, cả lũ hân hoan hút cạn dòng máu nóng hổi rỉ ra từ “vật thể”.
-         Ông thấy ít ai quan tâm đến phi vật thể không?
Giá trị lịch sủ, văn hóa, khoa học, tiếng nói, chữ viết, tác phẩm nghệ thuật, khoa học, ngữ văn, nghề thủ công, y dược học cổ truyền... Vì văn hoá không có máu!.
     Từ bệnh viện, những dây truyền, xilanh tái chế thành ống hút, thìa nhựa, hộp sữa chua… Thịt, cá, tôm, rau không còn sạch như xưa. Tội lắm ông ơi! Dân nghèo chỉ chết thôi. Những thằng có quyền hành, cố tình đui, “Đa kim ngân phá luật lệ” mất rồi!
     Ông Sâm buông lời như sấm sét, lão Tâm giật nẩy mình. Người thông tuệ như ông, còn mù mờ với những thông tin sống chết như chơi, huống gì bà con quanh ông đầu tắt mặt tối, sớm hôm mưu sinh trong môi trường nhiễm độc, bể khổ đời người?
    Thiện ác không còn lằn ranh. Khái niệm tâm linh nhắm  vào lợi lộc, cầu vinh. Không quá khứ vị lai, lương tâm bị thui chột giữa bộn bề dối gian, ma mị.
     Cơn mưa rả rích buồn nẫu ruột. Bầu trời trắng đục màu sương. Con chim lẻ loi ẩn mình trong ngọn cây rậm lá, tiếng kêu chim chíp mơ hồ gợi lão Tâm nhớ về một thời không xa lắm, một làng quê...
…….
     Bà Tám – mẹ lão, khoan thai nhai trầu, đôi môi cắn chỉ, hai tay khoanh đầu gối, nhìn ra ngoài đồng mênh mông xanh màu lúa, chìm trong mưa giăng. Cơn mưa như rơi từng hạt, tiếng mưa rơi như nhặt như khoan, như gieo vào lòng người nỗi nhớ nhung không tên, không họ.
     Những con cá rô nhảy rồn rột, khi chiếc lờ được nhấc  lên. Màu xanh đen thân cá với hàng vi xoè đẹp mắt. Chiếc đũa tre vót nhọn, xuyên dọc. Mùi thơm toả ra trên bếp than rực lửa, chén nước mắm gừng với cơm lúa mới.
     Bà Tám vén cao ống quần, vác cuốc ra đồng, chiếc tơi lá không đủ che thân. Bà quay nhìn lão:
-         Mẹ bứt mấy cọng bông súng, về luộc con ăn. Nồi
cá kho lá gừng treo trên giàn, ăn rồi đi học!
     Tiếng chim non chíp chíp đầu hồi, căn nhà tranh của hai mẹ con lão trơ vơ trên gò giữa đồng, dưới cây trâm già. Bà Tám không chồng mà chửa. Làng phạt vạ, may không cạo trọc bôi vôi. Bà tảo tần sớm hôm, nuôi lão nên người.
…….
     Lão Tâm nhẹ nhàng đi vào chỗ mẹ nằm. Bà Tám đã gần tám mươi, nhưng minh mẫn, da dẻ hồng hào. Lão quỳ xuống bên mẹ, cầm tay đưa lên môi hôn, giọt nước ứa ra từ khoé mắt bà. Mãi gần mười năm trở lại đây, lão khuyên mãi bà mới chịu ra thành phố sống với gia đình lão. Nhưng hình như bà không vui, bà chỉ thích sống với luống rau, vườn cà, con gà, con vịt… nơi quê nhà nghèo khổ của bà.
     Lão ngạc nhiên thấy mẹ lật gối, lấy thư mời của hội người cao tuổi. Có lẽ hội chuẩn bị làm lễ thượng thọ, nhưng không. Thư mời dự hội thảo của các chuyên gia nước ngoài về sức khoẻ của các cụ. Ơn trời, chưa chắc con cháu lo được thế này. Lão dìu mẹ dậy, chải tóc cho bà, chiếc áo lụa màu mỡ gà từ ngày mua về, bà chưa mặc lần nào. Lão sung sướng đi chầm chậm bên mẹ như thời còn thơ ấu, nhưng tâm trạng hân hoan, hãnh diện vì mẹ.
     Lướt qua danh sách các loại thuốc, thực phẩm chức năng dành cho người lớn tuổi. Toàn thuốc quý, nhưng mua một, tặng một. Lão Tâm nhẩm số tiền mang theo, cô phiên dịch nhanh nhẹn:
-         Bác chỉ cần ký vào, cháu sẽ giúp bác!
     Người đâu mà xinh đẹp và lịch sự quá thể!

     Cháu nội ôm túi thuốc, nhìn bà trìu mến:
-         Bà sướng nhé. Bà khoẻ hơn, cháu sẽ đưa bà về
quê!
     Bà tiếc tiền,  nhưng lòng rộn rã niềm vui, vì sự hiếu thảo của con cháu.
     Cô mân mê từng hộp thuốc, bỗng tái mặt:
-         Thuốc quá date bố ơi!
     Lão vội lấy kính, mặt nghệch ra. Lão Tâm dắt tay con gái ra ngoài hiên:
-         Đừng nói với bà con nhé!
     Ông vội bỏ vào thùng rác, may mà bà nặng tai không nghe.
-         Một lũ khốn nạn, đem ngôn từ bác ái, toa rập lừa
đảo những kẻ bần cùng. Một lũ vô lương tâm, sâu mọt làm người, một lũ…
      Ông Sâm nghe qua giận dữ, tuôn ra những lời chửi rủa. Nhưng ông ngắt ngứ, không còn từ nào tệ hơn để diễn đạt sự uất ức trong ông.
……..
      Bà cụ Tám nghe thoảng thoảng mùi trầm hương, không gian vắng lặng. Thời khắc giao thừa mãi thiêng liêng đối với bà, năm mới sẽ mang lại hạnh phúc, lòng tin yêu, niềm hy vọng thái hoà. Những lo âu, phiền muộn, bất hạnh của gia đình bà, của nhân gian sẽ rời xa, tan chìm theo năm cũ.
     Bàn thờ không di ảnh, không biết ai đã sinh ra bà. Bà chỉ nhớ mơ hồ cô nhi viện H. với bóng dáng các dì phước nghiêm khắc, đã dày công nuôi dưỡng. Hơn mười tuổi, bà trốn ra ngoài lang thang đầu đường xó chợ. Sau hiệp định Genève, bước chân vô định đưa bà đến một miền quê lạ hoắc. Ngày làm thuê, đêm về ngủ góc miếu Thần hoàng. Một đêm mưa gió bão bùng, sét đánh tan hoang cây đa già bên miếu, bà bị cưỡng hiếp bởi người đàn ông không rõ mặt. Lão ra đời từ đó.
     Gương mặt lão Tâm khôi ngô, người ta gọi lão là đứa con rơi của Thần hoàng. Những bà mẹ đôn hậu, đùm bọc mẹ con lão như người thân máu mủ. Kỷ niệm thời ấu thơ, nơi bà cụ Tám nhận làm quê ngoại, vương vấn mãi trong lòng lão khôn nguôi.
      Trên mảng tường dọc phòng khách, lão Tâm treo bức tranh khổ lớn, phong cảnh đồng quê, hai con trâu nhởn nhơ gặm cỏ. Xa xa, đàn cò trắng tung cánh la đà, hàng cau trước căn nhà tranh đơn sơ, đổ bóng mỏng manh theo ánh nắng ráng đỏ còn sót lại của hoàng hôn. Lão Tâm nhờ hoạ sĩ vẽ thêm cây trâm già, bầy gà để mẹ nhìn đỡ nhớ.
……..
     Năm cũ sắp qua. Mùa xuân chỉ gieo vào lòng lão nỗi bất an. Tết Mậu Thân năm nào đã ghi dấu ấn tang thương trong lòng lão. Năm Đinh Dậu - 157 các châu quận Cửu Chân và Nhật Nam khởi nghĩa dưới sự lãnh đạo của Chu Đạt, đánh chiếm các thành ấp, làm tan rã chính quyền đô hộ của nhà Hán. Năm Đinh Dậu – 1837, vua Minh Mạng sai người đóng 10 bài gỗ trên đảo Hoàng Sa, đổi tên nước ta là Đại Nam. Quyết giữ toàn vẹn giang sơn cha ông để lại.
     Lão nhớ năm Mậu Tuất (938), Ngô Quyền giết tên nội phản Kiều Công Tiễn và đại thắng quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng. Khởi nghĩa Lam Sơn, năm Mậu Tuất (1418), quân Minh đánh úp, Lê Lợi rút quân về Chí Linh. Quân Minh cướp các loại sách quí, ngà voi, đồi mồi, trầm hương, vàng bạc… mang về.
     Thật hiếm triều đại nào có chính sách dùng người cởi mở, bao dung như thời kỳ nhà Mạc, không chỉ dám dùng người cựu triều thù địch, nhà Mạc còn trọng dụng cả những người từng theo địch trở về.
     Chính sách dùng người của nhà Mạc còn được đời sau ca ngợi. Sách “Vũ Trung tuỳ bút” của Phạm Đình Hổ  cuối thời Lê trung hưng ghi: "cái đức chính của thời Minh Đức (niên hiệu của Mạc Thái Tổ) và Đại Chính (niên hiệu của Mạc Thái Tông) nhà Mạc vẫn còn cố kết ở lòng người chưa quên. Vậy nên thời vận đã về nhà Lê mà lòng người hướng theo nhà Mạc vẫn chưa hết...”.
     Tiếng chuông nhà thờ ngân vang trong đêm trừ tịch. Lão Tâm đã sống trọn một lục thập hoa giáp. Lão sẽ bắt đầu chu kỳ mới, nhưng nhân tâm suy đồi, bạo lực man trá lên ngôi đều do sự giáo dục lệch hướng mà ra, lòng lão u uẩn. Chính lão cũng thờ ơ, khiếp nhược, cam phận cho cuộc sống riêng mình, lão đang sám hối trước vong linh tiên tổ. Ngước nhìn những vì sao long lanh trên bầu trời xanh thăm thẳm, lão thành kính cầu mong năm mới, mưa thuận gió hoà, quốc thái dân an.

ĐỔI ĐỜI


   Anh chị Hai: chồng chính, vợ phụ. Nghề thợ xây như dân Digan, “người đi xây những công trình, nhà cao cửa rộng là mình ra đi”. Ba đứa con ở quê nhà, con Hạnh lớp mười, thằng út lớp ba. Thằng Minh ở giữa, chưa xong lớp tám bỏ ngang, làm công nhân lò gạch.
     Không như cánh thợ trẻ, chiều thứ bảy lãnh lương góp nhau nhậu đã đời, gọi là bồi dưỡng sau một tuần cật lực.
     Anh Hai chở chị về ngang chợ, mua vội bó rau, ký thịt mỡ nhiều hơn nạc, kho mặn chát với tiêu. Dành cho tuần tới.
     Căn phòng mười hai mét vuông hình như quá rộng, chỉ có chiếc giường đôi, bếp lò cùng mấy cái nồi cũ kỹ. Anh bắc ghế ngồi trước phòng trọ, đôi mắt buồn hiu nhìn xa xăm. Mùi xào nấu ngào ngạt thơm, băng qua cửa sổ, xộc vào mũi anh. Anh thở dài nhớ về các con, “nhớ canh rau muống nhớ cà dầm tương”.
     Chị đứng sau lưng anh lúc nào không hay, mắt đỏ hoe. Chị lấy chéo khăn lau, cười méo xẹo:
-         Nấu xong bữa ăn, khói trộn lẫn mồ hôi cay xè!
     Chị ấp úng:
-         Tui định hết tháng về với mấy đứa nhỏ, sắp khai
giảng rồi. Đầu năm học “căng” thiệt à ông! Hơn nữa, tui…
     Chị kéo tay anh, má ửng hồng pha trộn ráng chiều, mặt trời khuất dần bên kia con kênh, nước đen ngòm.
     Con đã vào trường, bụng chị nhô lên lum lúp. Thằng Minh chạy về như cơn lốc, hơ hãi:
-         Ổng bị sập giàn giáo, té gãy xương…
Chị như Từ Hải, chết đứng. Chưa kịp dặn dò con
Hạnh, hàng xóm đã đến đầy nhà, ai cũng xăng xái cho chị mượn tiền, người nhiều lắm cũng chưa tới năm trăm, nhà quê lấy đâu ra. Chú Tam lột chiếc nhẫn một chỉ, định để dành đám cưới cho con trai. Bà Năm “kẹo” thường ngày khó ưa, lẳng lặng mở túi yếm gài hai lần kim băng, lôi ra xấp tiền đủ loại, đếm được hơn một triệu.
     Thằng Minh đèo mẹ ra quốc lộ, đường làng qua mấy cơn mưa, trơn như thoa mỡ, chị bấu chặt lưng con. Xa xa, ánh đèn pha của những chuyến xe xuôi ngược, quét trên mặt đường nhựa còn đọng nước mưa, phản chiếu vệt sáng chói mắt. Thằng Minh loạng choạng, quăng mẹ hắn cái ịch trên bụi cỏ ven đường còn ướt đẩm. Chị Hai chống hai tay vào eo, cúi gập người thở dốc. Cơn đau tức từ bên hông lan dần xuống bụng dưới, chị nghe như có dòng điện nóng hổi, nhơn nhớt lăn dài theo đùi chị.
     “Hoạ vô đơn chí”. Chú Tam ngồi rầu rỉ nhìn con Hạnh. Ngoài trời trắng xoá cơn mưa dầm. “Ông tha mà bà không tha, làm cho cái lụt hăm ba tháng mười”. Mọi năm quê mình chỉ có lụt, lụt mang phù sa bồi đắp ruộng đồng, hạt gạo còn thơm mùi lúa mới. Bây giờ mới có lũ, lũ của lũ không có trái tim người, phù sa cuốn theo hoa màu và sinh linh ra biển.
…….
     Anh Giáp, con bà Năm “kẹo” bàn với mẹ bán nhà, cả vườn với mấy sào ruộng, ra thành phố sống. Dầu gì ở phố vẫn hơn, không lo mất mùa, không lo bão lũ, nhất là tình trạng an ninh thôn xóm. Bầy gà mái với hai con gà trống, chuẩn bị giỗ cha, một đêm tụi nó quất sạch, không một tiếng kêu. Làng quê không còn yên bình.
     Bà Năm nhìn lên bàn thờ:
-         Nỡ nào bỏ ông bà, tổ tiên mà đi hả con. Bảy Lung
xóm trên, đùm đế nhau đi rồi cũng về bám mảnh đất này đó thôi!
-         Mẹ nghĩ coi, từ việc nước, việc làng đến khuyến
nông, khuyến học đều nhờ “những người con xa quê”, mang tiền về đóng góp. Quê mình ai cũng quanh năm đầu tắt mặt tối. Có ai khá không, có ai nghĩ ra phương kế gì để thoát nghèo hay chỉ trông chờ như chờ viện trợ?
     Xã thuần nông mà hạt giống trời ơi, phân bón lại gặp phân giả, phá nát ruộng đồng. Thuốc trừ sâu thì sâu không chết, chỉ cây lúa chết. Ông tỉnh, ông huyện có qưởn đâu mà về nghe mẹ kể chuyện tào lao.
     Anh Giáp bực mình:    
-         Mẹ thấy không? Nhà mình nay mai không biết
dọn đi đâu! Cả làng này quy hoạch. Người sống, người chết đều tái định cư. Có gì yên đâu mẹ?
     Anh nhìn xa vắng, bên kia con mương, nhà Hai Ân le lói ánh đèn hiu hắt. Điện cuối nguồn hết hơi, bóng đèn 60w thấy rõ sợi dây tóc vàng khè. Tháng nào cũng phải đóng tiền điện méo mặt. Ban ngày sáng trưng, ban đêm ẩn hiện như ma.
     Con Hai Ân có tài câu lươn. Mới mười tuổi đầu, đã biết pha chế món cháo lươn với mẹ, ngon hơn đặc sản Nghệ An. Hắn tuốt lấy thịt lươn, xương lươn luộc lấy nước để nấu cháo. Rang gạo vàng thơm. Hành băm nhỏ phi với dầu ăn, tiêu, bột ngọt, dầu điều, nước nghệ, ớt bột. Múc cháo ra bát và thêm phần thịt lươn đã xào, rắc rau răm cùng hành lá cắt nhỏ, thêm gia vị cho vừa miệng, vắt chanh, trộn đều, ăn nóng. Ai cũng khen ngon.
     Hai Ân an ủi vợ:
     - Hắn cần học hành gì? Tiền đâu cho học phí, áo quần đồng phục, quỹ này quỹ nọ. Như anh Giáp, con bà Năm “kẹo”, xong đại học, trơ mỏ!
     Hai Ân lý sự:
     -  Ai đời thằng không học hành gì, lại hơn thằng có học. Thời bây giờ muốn yên phận và tiến thân, em phải dạy con, rành hai thứ…
     - Thứ gì?
     - Câm và điếc.
     - Con mình học hành giỏi giang, khôi ngô tuấn tú…
     - Nhưng chúng nó đã được quy hoạch rồi. Đồng ruộng lúa xanh rì, hạt gạo thơm và địa vị xã hội không dành cho chúng nó. Mà dành cho con ông cháu cha.
     Trời sang đông, mưa phùn gió bấc. Không rét lắm nhưng khó chịu, mùa này chỉ ngồi chơi rồi quơ đại củ khoai, củ sắn lót bụng. Hồi trước, mấy bụi tróc (dong riềng) trồng  đầy ranh vườn, bây giờ mất giống. Cứ nghe ai trồng cây gì, nuôi con gì phất lên, từ huyện đến xã hô hào tìm mua giống cho bằng được, không cần biết có phù hợp thổ nhưỡng, tập quán, khí hậu quê mình hay không. Nông nghiệp lụi tàn dần, dòng sông ô nhiễm không còn trong xanh. Cá tôm cũng tìm đường thoát nạn.
     Chú Tam dắt thằng Minh vào thăm cha nó. Vừa xuống bến xe, người đông như kiến cỏ, ông cháu lớ ngớ bị giật mất túi xách đựng mấy bộ đồ đã cũ, may không mất tiền.
     Anh Hai bị gãy mấy xương sườn, tay cầm bay bó bột treo lên cổ. Nhà thầu cũng có lương tâm, chăm lo cho anh qua cơn nguy kịch. Chú Tam xin xuất viện, đưa hai cha con anh Hai về quê. Chị Hai sau ngày hư thai, sức khoẻ kém đi thấy rõ, da xanh tái như thiếu máu, càng ngày sợ gần đàn ông.
     Không biết cơ trời thay đổi tốt lên hay không. Bờ  sông bên lở bên bồi, biền đất bồi đắp cả trăm năm nay bỗng bị xói mòn dần, trôi tuột theo dòng nước đục ngầu, hung hãn.   
     Bên kia sông mọc lên khu du lịch sinh thái, ruộng đất bị thu hồi, đền bù rẻ mạt. Dân làng Tây như gà mắc tóc, ôm mớ tiền vào khu tái định cư ngồi bó gối ăn dần, vô công rỗi nghề sinh ra lắm chuyện đau lòng. Anh Thắng, thằng Minh được nhận vào chân bảo vệ của công ty Huỳnh Hoang – chủ đầu tư. Thằng dốt khi có quyền hành đâm ra hống hách dễ sợ, cặp mắt thằng Minh hất lên trời. Ông thầy Phú già xin bứng cây khế bằng tuổi ông sang nơi ở mới, hắn quát tháo như hắn là chủ nhân ông:
-         Tất cả đã được đền bù, lấy tiền rồi, bây giờ là của
nhà nước.
     Anh Hai đã khoẻ, được tuyển vào đội thi công. Đội thi công của chủ đầu tư có khác, mặc đồ lao động có phù hiệu sau lưng, bao tay, nón bảo hộ vàng kệch. Lỡ té giàn giáo cũng không sao, không bị chấn thương sọ não.
     Con Hạnh được cho đi học khoá kế toán ngắn ngày, phụ trách tiền lương. Từ khi ăn trắng mặc trơn, Hạnh xinh đẹp lên thấy rõ, chị Hai nhìn con mà đâm lo.
     Một lần anh Hai được mời đi nhậu, xe hơi đón tận nhà. Thằng mặt chuột, mắt ti hí nghe đâu bà con gì của ông Huỳnh Hoang đon đả:
-         Chà chà, nhà bác nhỏ quá, mai mốt dọn vào dãy
biệt lập trong khu sinh thái, cháu phụ một tay!.
     Hắn tặng riêng cho Hạnh chiếc xe máy cáu cạnh.
     Với linh tính của người mẹ, chị Hai quyết liệt từ chối dù món quà giá trị rất lớn, so với gia đình chị.
     Lần đầu tiên anh Hai đến chốn phồn hoa, men rượu khiến anh như con người khác. Anh cười nói huyên thuyên và tự hào nhìn quanh, khi thằng mặt chuột gọi anh là bố. Anh say khướt, chân nam đá chân chiêu…
     Anh vất ra giữa bàn cọc tiền mới cáu, chưa bao giờ cả nhà anh thấy nhiều tiền như vậy.
     Hai bên bờ tả, hữu ngạn sông Sinh như hai thế giới. Bên kia sông, tiếng động cơ ầm ì suốt ngày đêm, sáng trưng ánh đèn cao áp. Nghe đâu sẽ có cầu nối hai bờ , con đường dẫn sẽ cắt ngang ranh nhà anh chị Hai. Thằng Minh tuyên bố:
-         Nhà mình sẽ ra mặt tiền, con đường nhựa nối khu
du lịch sinh thái và chạy về thành phố, đổi đời rồi!
     Mà quả thật, anh chị Hai khá lên thấy rõ.
     Ngược lại, lòng bà con hoang mang. Sự bất an hằn lên thành rãnh dọc ngang trên những khuôn mặt già nua, khốn khổ. Chú Tam lý sự:
-         Người ta mở mang giao thông gọi là để phát triển
kinh tế - xã hội, giao lưu văn hoá vùng miền, nâng cao đời sống, tiến dần đến công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông thôn. Nhưng tui e rằng đây là ý đồ mở rộng, chiếm đất  của thằng  Huỳnh Hoang!
     Đúng y như lời, hơn hai mươi hecta hữu ngạn sông Sinh bị giải toả trắng bóc, mơ ước nhà mặt tiền của thằng Minh theo mây theo khói. Anh chị Hai cũng như bao người dân khác trong làng cùng chung số phận với bà con bờ tả ngạn, bên kia sông.
     Gia đình anh chị Hai, chú Tam từ khi có đồng tiền đền bù, đủ làm nhà trên mảnh đất gò tái định cư khang trang, nhưng chỉ gần trăm mét vuông, nông nghiệp mấy đời nhưng không có đất canh tác. Ngày xưa chợ làng quanh năm nhộn nhịp, đổi trao con gà, trái bí, bó hành, con heo, con vịt, xấp vải, cái nồi… Quy hoạch khu du lịch sinh thái người ta quên làm trường, trạm y tế, làm chợ.
     Anh Hai còn có nghề thợ hồ, chú Tam và bà con làng Đông ngồi bó gối nhìn nhau, lũ trẻ chưa đến mức “bần cùng sinh đạo tặc” nhưng rảnh rỗi sinh nông nổi, cà phê cà pháo suốt ngày, tập tành đua đòi ăn chơi, nhậu nhẹt. Thằng Minh dính vô vụ buôn bán heroin, tù chung thân. Con Hạnh có bầu mất việc, thằng bé sinh ra giống hệt thằng mặt chuột.

TRĂNG TREO MÁI LÁ

Tôi đi loanh quanh vì không biết đường, vác trên vai bao tải nặng trịch. Bỗng nhiên cô gái từ trong nhà bước ra chận đường: - Anh tìm ai mà...