Thứ Sáu, 3 tháng 5, 2024

NÀNG LILITH CỦA TÔI


Những giờ phép cuối tuần là thời gian thần tiên đối với chúng tôi. Những SVSQ Hải, Lục, Không quân bên các bông hồng xinh đẹp của thành phố biển Nha Trang, tay trong tay dập dìu trên đường Độc Lập với cafe 108, Billard Thu - Quang Trung, chợ Đầm, Hòn Chồng, cầu Xóm Bóng... đã tạo bức tranh sống động, dễ thương cho thành phố biển và đậm nét hào hoa của những chàng trai tuổi đôi mươi vừa giã từ bút nghiên lên đường nhập ngũ.
Những anh chàng nhút nhát như tôi chỉ biết song hành cùng đồng đội, ngắm nghía phố phường, để quên đi những ngày gian khổ huấn nhục ở quân trường.
Quán cơm Thọ Lộc có hai cô bé tuổi độ trăng tròn rất xinh và đều cận thị, tôi không phân biệt được ai chị ai em, hình ảnh ấy đã đưa tôi vào mộng mị.
Tôi theo chân Quân, anh chàng cùng khóa SVSQ/HQ Nha Trang cố dành lại ít nhiều từ đồng lương của mình để ăn cơm trưa vào mỗi Chủ nhật ở nơi ấy.
Quân để ý cô thường hay ngồi casier nhưng khi cô chị hay em xuất hiện đồng thời, Quân và tôi đâm ra ngớ ngẩn.
Những lá thư tình Quân gởi đi không có dấu hiệu hồi âm và riêng tôi lòng cũng thấp thỏm mong chờ...
Một lần vào tối thứ bảy được phép ngoại trú, chúng tôi tấp vào quán cafe Diễm, ánh đèn blacklight hắt tia tím mờ mờ nổi bật bộ tiểu lễ trắng giữa không gian huyền ảo, ngoại trừ khuôn mặt đen đúa bởi nắng gió Nha Trang.
Chị em Diễm thật đẹp, cả hai cùng mái tóc demi-garcon thời hippi bùng nổ, cùng chơi bạch phiến. Những điếu thuốc Kool se đầu đưa tôi vào ảo giác mơ màng, khuôn mặt Diễm lung linh khiến tôi liên tưởng đến nữ thần Lilith trong Trong sách "Sáng Thế Ký" (King James Version).
Tôi biết Diễm cũng có cảm tình với tôi, những điệu slow đã cho tôi có cơ hội được thưởng thức, mê mẫn bởi hương tóc và thân hình gợi cảm của nàng. Kiều - em Diễm có vẻ còn ngây thơ và e ấp khi ngồi đối diện với Quân. Chuyển qua điệu tango, Diễm vẫn chưa muốn rời tôi. Ôm nàng vào lòng Diễm ngước nhìn, đôi mắt như có lân tinh và khe khẻ hát: "L’amour, c’est pour rien"
(Bài hát của Enrico Macias thịnh hành vào những năm 60s).
Đêm đã khuya, đường Duy Tân (nay Trần Phú) vắng thưa người, tôi và Quân đưa chị em Diễm về. Nhà nàng ở gần phi trường, chỉ có mẹ và hai chị em nàng trong căn nhà nhỏ nép dưới hàng cây cao rậm lá. Khi về nhà Diễm khác hẳn, ân cần chu đáo chăm sóc mẹ tận tình và tính cách rắn rỏi quyết đoán của nàng khác hẳn Diễm những lần dịu dàng bên tôi khi dancing hay bát phố.
Nàng nhìn thẳng vào mắt tôi và tỏ tình bằng hành động âu yếm không thể giấu giếm và chối cãi được trước mặt mẹ nàng, tôi lại đâm ra ngại ngùng bởi tính nhút nhát cố hữu của mình.
Mẹ nàng cười:
- Tính em nó xưa nay vẫn vậy, "có thương thì bảo rằng thương, không thương cũng nói một đường cho xong"!
Nghĩ đến những ngày sắp tới, đời lính phiêu bạt và sinh mệnh đã giao cho đất trời định đoạt, tôi đâm ra ngại ngùng với tình yêu chân thành của Diễm khiến mẹ nàng không vui vì thái độ của tôi. Tôi như chàng Adam ngu ngốc, có khi nào quan niệm sống của Diễm lại giống Lilith? "Thời khai thiên lập địa, Chúa dùng đất sét để tạo ra Adam và một người nữ khác là Lilith. Họ là hai thực thể ngang hàng, độc lập, Lilith không được tạo ra từ xương sườn của Adam như Eve nên nàng không phải lệ thuộc vào chàng. Chính vì vậy, Lilith có thể tự do phát triển nhân cách mà không bị ràng buộc...". (*)
Có phải tôi đã thụ động, khờ khạo trong tình yêu và cuộc sống?
Ngày ra trường, giã từ Diễm và Nha Trang. Tôi được thuyên chuyển về miền Tây, vùng sông rạch hiền hòa nhưng sóng ngầm lũ dữ. Tôi được chỉ định làm trưởng toán Tango của Giang đoàn. Những khi hành quân xuôi ngược trên sông Cửa Lớn hay sông rạch U Minh, tôi đã thoát chết nhiều lần nhờ kinh nghiệm quý báu của những người thủy thủ dạn dày chiến trận của tôi.
Những dề lục bình trôi ngược con nước lớn, ánh đèn hàng đáy bên kia sông... những cạm bẫy ngầm đã đưa bao chiến hữu của tôi chìm vào lòng sông đục ngầu phù sa hay những con rạch ngoằn ngoèo giữa rừng tràm, đước.
Quân cũng tân đáo về Duyên đoàn 41 ở đảo Paulo Obi (Hòn Khoai - Giáng Hương).
Gần hai năm lăn lộn khắp vùng sông nước Năm Căn tôi xin thuyên chuyển về Nha Trang. Trong lần hành quân sau cùng trước khi về đơn vị mới, đoàn tàu của tôi bị tấn công ở Đầm Dơi trước khi ra cửa Gành Hào, tôi may mắn thoát chết.
Trên chuyến caribou từ phi trường Năm Căn về Sàigon, nhìn qua khung cửa kính ngã ba Tam Giang của dòng sông Cửa Lớn hiện ra rõ nét dưới kia khiến lòng tôi bùi ngùi nhớ đến hình ảnh bi thương của các đồng đội đã ngã xuống nơi này. Dòng sông lạ kỳ đổ ra hai cửa biển: Cửa Bồ Đề và cửa Ông Trang nên khi thủy triều lên cùng đổ vào và điểm bình lưu tại Năm Căn. Nhớ những lần ghé chợ Hàm Rồng cùng những thủy thủ già trẻ của tôi nhậu say quắt cần câu sau những lần hành quân, nhưng may mắn còn đem thấm thân cha mẹ sinh thành về bến an toàn. Ngày xưa thời thuộc Pháp, những lò than đước nổi tiếng một thời theo ghe thương hồ lên tận Saigon và vì chỉ có năm lò than của ông Tây Robert nên địa danh này được gọi Năm Căn? Nghe ông ba Trí ngồi tỉ tê kể chuyện, nghề của ông chỉ... nhìn khói của lò than, mỗi tháng ông kiếm được cả cây vàng. Dọc theo sông Cửa Lớn vô số hàng đáy nên tôm khô, cua, cá ngon và rẽ nhất nước. Đèn hàng đáy cũng là tầm ngắm trực xa của B40, 41 vào các chiến đỉnh, tàu bè xuôi ngược trên sông.
Sau những ngày nghỉ phép, tôi trình diện Căn cứ Hải quân Nha Trang. Cùng với bao nhiêu háo hức đợi chờ, tôi tìm đến nhà Diễm ở Phước Hải, nhà nàng cũng gần đơn vị mới của tôi.
Hình như mẹ Diễm không mặn mà với tôi ngày trở lại, bà mời tôi vào phòng khách có treo bức chân dung thật đẹp của Kiều nhưng không có ảnh Diễm. Bà có vẻ thoáng vui trong ánh mắt khi biết tôi được chuyển về Nha Trang. Căn nhà vẫn nép dưới hàng cây râm mát, ngoài cổng màu hoa tigon hồng rực rỡ dưới ánh nắng ban mai. Lá thư từ Diễm tôi đã nhận hơn hai tháng trước, tôi thuộc từng con chữ vẫn đang nằm trong túi áo. Quán cafe Diễm đã sang tay cho người khác, nàng được nhận vào làm việc cho Cơ quan Phát triển Quốc tế của Hoa Kỳ (United States Agency for International Development, viết tắt: USAID) là một đơn vị thuộc chính phủ điều hành viện trợ dân sự của Mỹ cho nước ngoài tại Nha Trang.
Mẹ Diễm nghĩ rằng tôi không biết về thông tin của nàng và bà không nói gì, tôi xin phép ra về nhưng cảm thấy nỗi buồn dâng lên trong lòng khó tả.
Từ cổng căn cứ tôi nhìn về hướng đảo Cô Tiên, bức tượng người lính trắng mờ mờ, dáng núi như cô gái nằm trải dài mái tóc buông lơi ra tận bờ biển.
Anh trên cao ngàn năm thao diễn nghỉ
Em âm thầm xõa tóc đợi nghìn thu
Sóng nối tiếp lao xao dạt vào bờ, những con tàu màu xám neo ngoài xa trông cô đơn như nỗi lòng người lính biển.
Tiếng xe máy đột ngột dừng lại ngoài cổng, Diễm xuất hiện bất ngờ khiến tôi đâm ra lúng túng. Người thủy thủ trực đưa tay chào tôi và kèm theo nụ cười.
Diễm ôm choàng lấy tôi và lạ lùng làm sao nàng khóc! Giọt nước mắt trong veo như tắm gội và nâng tâm hồn tôi lên chín cõi mây trời. Gió biển làm rối tung mái tóc nàng, phảng phất mùi hương con gái.
Tôi chở nàng dọc theo đường Duy Tân về cảng cầu Đá (Chụt), nhìn vào khung trời cũ: Trung tâm Huấn luyện Hải quân Nha Trang nơi tôi đã được thụ huấn, lòng dâng lên niềm tự hào lẫn gợi nhớ những kỷ niệm êm đềm.
Đêm ấy, nàng ở lại bên tôi. Nhớ nhung và dạn dày sương gió đã đẩy lùi con thỏ nhút nhát trong tôi, tình yêu và cuồng nhiệt đã đưa chúng tôi về thời nguyên thủy. Tôi ôm ghì nàng trong vòng tay khiến nàng ngộp thở và sự háo hức khiến tôi cũng muốn hụt hơi.
Nhưng nàng bất ngờ vì tôi lại là chàng Adam ngu ngốc, tôi âu yếm hôn và mặc quần áo lại cho nàng, nàng bật khóc...
Tôi đi dọc theo bờ cát ven biển, chính tôi cũng không biết tôi đang nghĩ gì. Tôi lẩm nhẩm bài hát:
Nha Trang ngày về
Mình tôi trên bãi khuya
Tôi đi vào thương nhớ
Tôi đi tìm cơn gió
Tôi xây lại mộng mơ năm nào
Bờ biển sâu
Hai đứa tôi gần nhau" (Nha Trang ngày về - Phạm Duy)
Nhưng tôi vẫn đang có Diễm kia mà. Nàng nghĩ gì về tôi? Tôi vẫn sung mãn của người đàn ông hừng hực lửa như nàng đã chứng kiến. Tôi giật mình, có khi nào nàng sẽ hành động như Lilith?
"Lilith được xem là một người phụ nữ mạnh mẽ, nàng trở nên thông minh hoạt bát và nhận thức được thế giới nhiều hơn cả Adam.
Một ngày nọ, Lilith đề nghị được ân ái với Adam, rằng nếu Adam cho phép nàng "nằm lên trên" chàng thì nàng cũng sẽ cho phép Adam làm lại điều tương tự. Tuy nhiên, Adam đã từ chối.
Adam chỉ thể hiện thiên tính làm chủ của nam giới, anh ta muốn được "nằm trên" nhưng không muốn hạ mình mà lại bắt Lilith phải nhượng bộ. Nổi giận trước thái độ của Adam, Lilith buột miệng phỉ báng tên thật của Chúa (יהוה theo tiếng Hebrew, phiên âm Latin là YHWH - đọc là "Yahweh" hay "Jehovah" có nghĩa là "I am who I am"), sau đó Lilith bỏ đi.
Khi sự việc đến tai Chúa, ngài rất tức giận và quyết định đuổi Lilith khỏi vườn Địa Đàng. Đây cũng là vụ ly hôn đầu tiên vì... mâu thuẫn vợ chồng trong chuyện gối chăn, cũng là câu chuyện đầu tiên về nữ quyền và bình đẳng giới trong thời cổ đại...". (*)
(còn nữa)
Nguyễn Châu
(*) "Sáng Thế Ký" thuộc phiên bản KJV (King James Version)
Ảnh: Núi Cô Tiên

KHÔNG CHÂN KHÔNG


Ông Hâm quay sang Nhị Nguyên:
- Có khi hắn điên!
Hắn đây là lão Tam, trong mắt ông Hâm những gì liên quan đến “Tam” đều đáng tin cậy nhưng đừng tam sao thất bổn…
Lão Nhị Nguyên không tán đồng cũng không phản đối, kiểu không gù, không gật có khi lại đắc nhân tâm. Chỉ cần phán đoán “có khi”, có khi lại chết người.
Nhà triết học người Đức: Immanuel Kant cho rằng nhận thức của con người chỉ biết được hiện tượng bề ngoài, không thể thâm nhập, phán xét được gì về sự tồn tại, vào bản chất đích thực của sự vật. Trong nhận thức cần hạn chế “vòng Kim cô” của lý tính để dành cho đức tin và Kant đã đi đến thuyết “bất khả tri”.
Lão Tam chán thế sự đã đành, lão chán ngấy ông Hâm. Chuyện gì cũng cho là biết, chuyện gì ổng cũng làm thầy thiên hạ. Chán nhưng vẫn là bạn của nhau, vẫn cố “tương kính như tân” để giữ hoà khí nhưng đôi khi giận hờn nhau tưởng chừng không thể hàn gắn được.
Cuộc đời của mỗi người như ba chi lưu từ một dòng sông. Địa thế hiểm trở, khiến thân phận ông Hâm uốn mình qua bao thác ghềnh, đồi nương. Có lúc êm ái xuôi về đồng bằng, rồi tách ra trăm dòng nhập vào biển cả. Đang học giữa chừng, lão nhảy ra đăng lính. Sắc lính nào oai hùng lão cũng thử, chiến trường nào ác liệt lão đào ngũ, có lúc lão bị tóm đưa ra lao công chiến trường.
Lão Hâm phân bua lão không hèn nhát nhưng lão không thích chiến tranh, lão không muốn bị nướng. Cái chảo gang to đùng, những con kiến thế hệ lão bò quanh thỉnh thoảng chạm râu vào nhau để ngậm ngùi thân phận, không biết chảo bị đốt nóng lúc nào cũng không hề biết ai đun củi vào lò.
Trong những lần hành quân cấp trên điều lão đi tải đạn. Những trái đạn vàng ối phản chiếu tia nắng mặt trời, dội vào mắt lão nổ đom đóm, lão thấy những tia hào quang chói lọi mang hình lưỡi hái của tử thần. Tiếng hô xung phong đột ngột vang lên trong đêm khiến lão bủn rủn chân tay, lão hoảng hồn lùi dần về phía sau, không biết viên đạn từ đâu khiến lão bị thương, cắt cụt một chân. Cha mẹ lão tạ ơn trời phật, kiểu “Tái ông thất mã”, hân hoan đãi tiệc mừng lão hồi cư.
Hoàn cảnh lão Nhị Nguyên lại khác, sinh ra và lớn lên ở vùng đất nửa xôi nửa đậu, cha ông đã mấy đời làm cách mạng, mong chấn hưng đạo đức suy đồi, quốc thái dân an. Chưa đủ lớn lão đã nhảy rừng, ba phen bốn bận tưởng chừng mất xác. May nhờ âm đức, ngày hoà bình lão về làng vinh quy bái tổ.
Cái tên Nhị Nguyên cha mẹ đặt, lại gây khốn đốn cho lão, bề trên suy luận:"Nhị Nguyên nghĩa là hai mang khó xài", nên nói gì đến chuyện lão được tin cậy. Thuyết Nhị Nguyên xem vật chất và tinh thần là nguồn gốc của thế giới nhưng không ai biết cái nào có trước, cái nào có sau, cái nào quyết định cái nào. Từ đó, lão đâm ra bất mãn ngấm ngầm, nhụt ý chí, chỉ nghe mà tịnh khẩu.
Càng già lão Nhị Nguyên cực đoan hết chỗ nói, những triết thuyết hổ lốn xâm thực sâu dần thành hoang tưởng. Sự hoang tưởng khiến lão mụ mị mê tín, bám víu vào đồng bóng vì mất đức tin nhưng những gì đã nhập vào tâm trí lão là chân lý, là kinh điển.
Một ngày lão sực tỉnh, ôm mối “vạn cổ sầu”: Sinh lão bệnh tử, thời gian như cánh chim bay, ân oán biệt ly, danh lợi như giấc Nam Kha, sang hèn giàu nghèo, dân tình khốn khổ, non nước đảo điên… Lão kháng cự lý thuyết cách tân, sự văn minh chỉ làm hư hỏng tinh hoa dân tộc. Lão tôn sùng nền văn hóa của các dân tộc miền ngược, truyền thống lâu đời từ cách ăn mặc đến sinh hoạt cộng đồng, mang sắc thái nhân bản rõ nét. Nhìn lại thấy mình lố lăng quá cỡ lão đâm ra tự thẹn.
Lão Tam thuộc dòng dõi con nhà danh gia vọng tộc, khoa bảng. Ông nội từng làm Thượng thư triều Nguyễn. Khi Bảo Đại thoái vị, cụ giũ áo từ quan mang theo chút ít gia sản lên thượng nguồn lập chùa, thí phát quy y. Cha lão xưa kia từng làm quan ngự y, hiệu thuốc Bắc: An Nhiên Đường lừng lẫy, phát đạt một thời ở kinh thành Huế. Lão Tam xuất thân từ trường Thiên Hựu (Institut de la Providence – sau đổi tên thành trường Đại học Khoa học Huế) danh giá. Cha mẹ lão định cho lão vô nhà dòng nhưng số lão không có ơn thiên triệu, xong Bac II (tú tài) lão vào Saigon theo học sư phạm. Đời nhà giáo thanh bần nhưng mang danh trí thức, lão bị liệt vào thành phần gia đình quan lại, trí thức tiểu tư sản.
Ông Hâm thấy đầu óc lão Tam lơ mơ, cho rằng lão uống nhầm thuốc. Ông gãi gãi cùi chân cụt, ngước nhìn lão Tam:
- Tôi thấy ông đang sống trên mây! Gió chiều nào nên ngã theo chiều ấy cho an vui cuộc sống. Thời nào không có kẻ sầu đời hoài cổ… Tôi thuê thợ xây tượng đài cho phần chân bị cắt, nhờ nó tôi được sống… !
Lão Tam lẩm bẩm:
- Sự đảo ngược chính là sự dịch chuyển của đạo, Thái cực tạo ra âm dương, khi dương cực đại chuyển hóa thành tĩnh. Trên nền tĩnh tại, thái cực tạo ra âm. Khi âm cực đại chuyển hóa thành động. Sự tuần hoàn của động và tĩnh là nguồn gốc của nhau. Từ sự chuyển hóa của dương và sự kết hợp của âm sinh ra ngũ hành, tương sinh tương khắc…
Ông Hâm trố mắt, với tầm hiểu biết “thờ chân cụt” làm sao có thể hiểu lão Tam nói gì. Lão Nhị Nguyên lại gật gù.
Chính nhờ không được tin cậy nên lão được đi học, càng có tri thức lão ngộ ra nhiều điều trái ngược hẵn với mớ lý thuyết, một thời mê muội.
Bất kỳ quan niệm sống nào không dựa vào nền tảng đạo đức lâu đời của cha ông đều bị lệch lạc. Người có trí nhưng không có đức là kẻ ác, sự lợi dụng dân trí thấp kém để mưu toan lừa lọc, hại nước hại dân đáng đem tùng xẻo.
Nhớ thời gia cảnh nghèo rớt mồng tơi hơn sáu mươi năm về trước, ông thân sinh của Nhị Nguyên làm tá điền cho gia đình cậu Tam, lãnh thêm bầy trâu năm con về “nuôi rẽ”, trâu sinh nghé được chia đôi. Năm Ất Dậu nạn đói hoành hành, nông dân làm ra hạt lúa mà không có gạo ăn, ba con trâu nái nhà Nhị Nguyên đẻ cùng một lượt. “Ruộng sâu trâu nái không bằng con gái đầu lòng” nhưng tuồn ra thằng cu. Ông xin quan Thượng thư ban cho cái tên: Nhị Nguyên ra đời từ đó.
Thời ấu thơ lam lũ, Nhị Nguyên vui cùng bầy trâu suốt ngày lêu lổng, nhưng vốn tính hiền lành được cả nhà quan Thượng thương mến, bảo bọc cho đi học cùng cậu Tam. Gần xong tiểu học, đất nước chia đôi, cha tập kết ra Bắc, mẹ con Nhị Nguyên được quan Ngự y thương tình đem về phụ giúp việc nhà. Nhị Nguyên được ăn trắng mặc trơn phổng phao ra dáng công tử. Lạ đời, so với cậu Tam èo uột như thầy với tớ.
Đầu thập niên 60, miền quê nghèo đượm tình làng nghĩa xóm không còn bình yên, Nhị Nguyên lên rừng. Một đêm gần sáng, Nhị Nguyên dẫn quân về làng xử tử ông thôn trưởng, giết luôn cả người em đang bắt cá ngoài đồng, hốt hoảng chạy về vì nghe tiếng súng. Gia đình cậu Tam lật đật dọn ra thành phố, bỏ cả cơ ngơi nhà ngói ruộng vườn…
Ngày hòa bình, người tá điền còn nhớ tình cũ nghĩa xưa. Tuy tha, nhưng tài sản bị sung công, cậu Tam đưa gia đình lên thượng nguồn nương nhờ cửa Phật, ngôi chùa do cụ Thượng lập nên và quy y trước đó, nay đã viên tịch.
Thời thế đã đổi ngôi, chủ thành tớ thằng lên ông. Dân Tây học, nhưng cậu Tam rành hán nôm, kinh kệ hơn chữ quốc ngữ. Cậu nghiền ngẫm “Thập niên thụ mộc, bách niên thụ nhân” sao mà thấy mình như “Tỉnh để chi oa”(Ếch ngồi đáy giếng)…
Nhị Nguyên được chuyển ngành về nông trường dứa. Anh mang ba-lô đi tìm cậu Tam, vùng đồi núi nhấp nhô dẫn lối đưa anh đến ngôi chùa nằm lặng im dưới chân ngọn Lam-Heo, Thường Đức. Những con đường mòn một thời khói lửa, rừng nguyên sinh Phước Sơn đã xóa dấu chân người, tiếng chim lảnh lót phá tan không gian tịch mịch của rừng thiêng núi thẳm.
Quan Ngự y tiên ông đạo cốt, râu tóc bạc phơ như cước. Vơ chồng cậu Tam và bốn đứa con lại lam lũ từ quần áo đến nếp sinh hoạt mưu sinh theo dân tộc Cơ-Tu, Xơ-Đăng… nhưng được ông nội dạy dỗ cẩn thận: Văn chương và đạo lý làm người, bên cạnh các môn khoa học kỹ thuật và ngoại ngữ từ cha mẹ chúng. Không đứa nào có khai sinh, nói gì đến học bạ và bằng cấp.
Nhị Nguyên đưa hai cha con cậu Tam về thành phố. Tất cả đã đổi thay, những tà áo dài trắng thướt tha rộn rã tiếng cười, bừng sáng cả cổng trường ngày nào kể cả chiếc áo dài màu mỡ gà đã cũ của các dì, các cô gánh hàng rong đã biến mất. Nhị Nguyên xin cho cậu Tam làm công nhân ở công trường dứa, chạy chọt cho cháu Tam Tòng vào trường dạng “bổ túc công nông” của nông trường như thập niên 60 ngoài Bắc. Nhưng với trình độ của cháu, không thầy cô nào dạy nổi, nên đành cho cháu làm công nhân.
Sóng dội vào vách đá dưới chân đèo Hải Vân tung bọt trắng xóa, mưa phùn rỉ rả kèm theo gió bấc len vào lạnh buốt thịt da. Ngoài khơi xa, chiếc tàu xám đang lầm lũi hải hành in trên nền chân trời chấm đen cô đơn như thân phận Tam Tòng. Phía bắc giáp chân núi có Hang Dơi, gọi là bãi Tiêu, thuyền qua đó hay bị lật chìm:
Đường bộ thì sợ Hải Vân
Đường thủy thì sợ sóng thần Hang Dơi.
Tam Tòng leo dần lên cửa ải hoang phế, mây trắng bay ngang đầu, rơi những hạt nước long lanh trên ngàn cây nội cỏ, trên tóc em bay. Trông về dãy núi xa xa, Sơn Trà như con sư tử già bờm dựng ngược, nhìn về Hải Vân quan ngậm ngùi cho sứ mệnh thiêng liêng phòng thủ sơn hà.
Đêm kia, Tam Tòng lang thang trên bãi biển Thanh Khê. Nhìn ra vịnh Đà Nẵng, biển phẳng lặng ánh lên màu mù sương đêm không trăng sao. Em bị khống chế lên tàu vượt biên.
.......
Ông Hâm đưa cây “tó” mòn đế cao su lên trời:
- Tui đâm ra sợ người, cái thằng người hôm kia còn cười giả lả với mình, sáng nay nó trừng mắt. Tui chống tó quay lui, hắn còn muốn đạp!
Quan Ngự y đã quy tiên, ngôi chùa dưới chân núi được các sư thầy về tiếp quản. Tứ Đức – em gái Tam Tòng đưa cha mẹ sang Mỹ định cư. Lão Nhị Nguyên gật gù:
- Nhân tâm, nhân tâm… Thiện tai, Thiện tai! Không thành danh cũng thành nhân!
Nguyễn Châu

THẰNG CU LỚN


Bà nội ngóng chờ ngày nó ra đời. Ngày thôi nôi, cả nhà lom lom nhìn nó thích gì trên mâm đủ thứ đồ lỉnh kỉnh, cha nó vội rút cây viết trên túi áo dứ dứ rồi đặt trước mặt nó, nó chồm lên chộp vào bình vôi ăn trầu của bà nội. Cha nó lắc đầu:
- Cái thằng...
Bà nội lấy tay quệt vết trầu ứa trên khóe miệng, cười hỉ hả nâng nhẹ bìu dái nó, rồi phán một câu xanh rờn:
- Đặt tên hắn là Cu Lớn!
Cả nhà cười vang, ông nội chép miệng:
- Thằng ni sau này làm
quan to. Đâu có đứa nào dám "chụp" ông bình vôi. Đích tôn của ông có khác… !
Mẹ nó hích cùi chỏ vào hông cha nó thì thầm:
- Sao là Cu… lớn?
Bà nội thính tai nghe được, liếc xéo con dâu:
- Mi chỉ đẻ có một thằng thôi sao? Nhà tao ba đời "nam đa nữ thiểu", còn thằng Cu em, Cu tam, Cu tứ… mi hiểu không hả?
Ông nội nhìn xa xôi ra ngoài đồng, tay vấn điếu thuốc lá miệng buông từng lời rành rọt:
- Tam nam bất phú, bốn thằng là tứ quý. Lão Chánh Môn có bốn thằng con đều đỗ đại khoa.
Nhưng cha mẹ nó học xong tiểu học thì nghỉ, nó lớn như thổi, được cái ít nói nhưng lì số một. Bà nội cưng như cưng trứng, bất kể ai nói đụng đến nó là bà chửi tắt bếp, riết rồi nó muốn gì được nấy. Đến tuổi đi học, cha nó lật tung tủ thờ tìm giấy khai sinh, không thấy, chỉ mẹ nó nhớ tên: Nguyễn Văn Đại. Tên này do ông nội tra trong phổ hệ, không sợ kỵ húy mới đặt cho. Bà nội nhổ bã trầu, nói lớn:
- Khai sinh dưới đáy lư hương. Tao cất ở đó để ông bà phù hộ cho nó!
Nghe được đi học nó mừng rơn, lon ton theo cha lên trường. Cha nó về, ngồi chưa nóng đít đã thấy nó, quần áo lấm lem, nước mắt nước mũi tèm lem. Nó gào lên:
- Đ. má nhớ bà nội quá!
Khỏi phải nói, bà nội xúc động cũng khóc, ôm nó vào lòng vỗ về an ủi:
- Thôi! Ở nhà với nội. Tổ tiên sư cha hắn chớ học với hành!
Lớn hơn chút nữa, đích thân bà nội đưa đón. Cô giáo nói nó chểnh mảng, không chăm chỉ học hành, cứ dòm ra ngoài bụi tre, nơi có bà nội ngồi thong thả nhai trầu chờ nó.
Nó có biệt tài bẫy chim, đặc biệt thích chào mào. Miệng nó ngậm chiếc lá tre buông ra tiếng hót véo von như chim gọi bạn tình, những cánh chim chào mào chao liệng đáp xuống cây khế trước nhà, nghiêng đầu hòa điệu. Mỗi lần cha nó phùng mang trợn mắt quát tháo những trò nghịch ngợm, nó ngước nhìn rồi thản nhiên như không. Chắc nó nhập tâm lời bà nội:
- Không được la rầy con trẻ! Nó biết cứt gì.
Trong nhà, nó không tin ai ngoài bà nội. Thậm chí cha nó hứa mua áo quần cho năm học mới, lớp năm rồi. Nó quay sang hỏi bà nội, nói trổng:
- Ổng nói mà có hay không?
Nó không chấp nhận những cái gì khác với tầm nhìn và hiểu biết của nó. Không có ai tốt trên đời này kể cả cha mẹ nó, ngoại trừ bà nội.
Đôi mắt rậm mi và hàng lông mày như sâu róm của nó nhìn ai cứ như kẻ thù. Trong dòng họ, ít ai có thiện cảm với thằng cháu đích tôn của ông bà Sửu.
Đặc biệt nó thương con trâu vì bà nội nó tuổi trâu, từ ngày nó có chút hiểu biết thấy ai trong nhà cũng sung sướng, chỉ có bà nội cực thân vì nó.
Ráng bò lên lớp tám nó bỏ học, xin tiền bà nội mua trăm vịt con về nuôi. Đàn vịt lông tơ vàng như bông cải, tung tăng tíu tít con nào cũng giống con nào nhưng nó cưng nhất là con vịt què nhảy từng bước xiêu vẹo ngộ nghĩnh. Nó ôm vịt con vào lòng đặt vào chiếc thau nhôm méo mó rồi đổ nước vào cho vịt bơi, vì nó nghĩ vịt con sẽ không còn đau đớn.
Nhưng vịt con mắc dịch cứ muốn nhảy ra theo bầy đàn, bắt vào rồi lại nhảy ra. Nó điên lên chửi vịt què ỏm tỏi:
- Đồ ngu, tụi nó giành ăn hết phần mày, có đứa nào quan tâm đến mầy mà mày theo...
.......
Cũng năm con trâu, bà nội nó quy tiên, tròn trịa một "lục thập hoa giáp". Cha nó định giết heo làm đám, nó vác heo thả lại vào chuồng. Hỏi, nó lầm lì không nói. Mẹ nó khóc than:
- Nghĩa tử là nghĩa tận con ơi! Phải cho tròn đạo hiếu! Chớ để hàng xóm chê cười.
Nó lẳng lặng xuống bếp nấu nồi cháo lươn, lươn đồng bắt được do nó đặt ống trúm ở tận cánh đồng ven sông Cổ Cò. Nó lầm bầm:
- Sống không có ăn, chết làm đám rình rang đãi ruồi!
Ông nội nó đã già lụ khụ, ngồi nhìn đám con cháu lăn xăn, khăn tang quấn khéo quanh đầu nhưng mắt ráo hoảnh, riêng chỉ mình nó ra sau nhà ngồi khóc thút thít.
Trước khi mấy ông thầy tu tụng kinh gõ mõ cúng cầu siêu cho bà nó, nó bưng tô cháo lươn nóng hổi thổi phù phù đút từng muỗng cho ông nội ăn. Miệng ông móm mém, mắt nhìn vô hồn vào đám đông bà con đến phúng điếu.
Bất cứ già trẻ lớn nhỏ, nó thấy có điều gì sai theo quan niệm "đạo đức" của nó, nó không kiêng dè, nói thẳng thừng, lý luận như ông cụ non:
- Đừng có nói "xã hội nó rứa" (vậy) mà làm càn. A dua theo đám đông tầm bậy. Mình phải là mình chớ! Những hủ tục lạc hậu phải bỏ, già đầu sao chưa đủ lớn?
Ai nghe qua cũng tức cành hông nhưng không nói gì được.
Sau ngày ông nội mất, nó bỏ vào Nam. Saigon đô hội phồn hoa khiến nó lóa mắt nhưng tình người thờ ơ không vồn vã thân thiện như làng quê nghèo của nó. Những đôi mắt nhìn nó cảnh giác, người giàu sang thì "phong thái đỉnh đạt' ai nhìn cũng e dè kiêng nể, lại coi thường cái 'cốt cách hai lúa" chân chất, thật thà của nó! Người thành phố đi như chạy, hối hả giành giật nhau từng miếng cơm, manh áo khác xa tình làng nghĩa xóm quê nhà.
Với nó, không có gì đáng để học ở nơi này, ra đường gặp nhiều thằng bặm trợn, đầu trâu mặt ngựa không biết nhường nhịn, lừa đảo gian manh.
Hắn bỏ về. Lão Khang 'giang hồ" nói nó đến không đúng chỗ. Giới thượng lưu người ta hào sảng sẳn sàng ra tay tế độ bố thí khắp nơi hay như giới "trí thức" họ ăn nói hòa nhã, lịch sư...
Nó trừng mắt đốp chát:
- Thiếu gì '"thằng" giàu nghìn tỷ đi tù, thiếu gì "thằng" giáo sư tiến sĩ mua bằng, nhân cách chẳng ra chi...
Đối với nó, những loại đó là "thằng" tuốt!
.......
Cha nó sính thơ, khách đến thăm nhà trà dư tửu hậu. Có mấy lão say ngất ngưởng mặt đỏ như Quan Công tự ngâm thơ mình sang sảng. Nó buông cái mo-lết, lau tay dầu nhớt. Nói trổng:
- Thơ gì rứa (vậy) mà thơ! Thơ phải đi vào lòng người, nghe chán thấy mẹ!
Lão nhà thơ cụt hứng, quắt mắt nhìn thằng thanh niên đang đà trổ mã mặt đầy mụn, buông lời khinh khỉnh:
- Ếch ngồi đáy giếng thấy bao lăm trời...
Nó sực nhớ thơ Lục Vân Tiên bà nội hay ngâm nga khi dỗ nó ngủ ngày còn thơ ấu, nó đọc liền một hơi:
"Quán rằng: Ghét việc tầm phào
Ghét cay, ghét đắng, ghét vào tới tâm
Ghét đời Kiệt, Trụ mê dâm
Để dân đến nỗi sa hầm sẩy hang.
Ghét đời U, Lệ đa đoan
Khiến dân luống chịu lầm than muôn phần
Ghét đời Ngũ bá phân vân
Chuộng bể dối trá làm dân nhọc nhằn.
Ghét đời thúc quí phân băng,
Sớm đầu tối đánh lằng nhằng rối dân".
Cả bàn nhậu trố mắt ra nhìn. Nó lửng thửng bỏ ra sau hè ngắm bầy chim thiên di đang bay về cõi xa mờ...
Nắng trải ánh vàng trên nền xanh thẳm màu lúa. Đàn vịt kêu vang ùa về phía nó, đôi cánh đã trổ lông cán bút. Tháng ba lúa trỉu bông nặng hạt cúi đầu, vịt sắp được thả đồng. Nó đắm say nhìn về bên kia sông nơi có bóng dáng diễm kiều nó hằng mong nhớ... Mẹ nó không nghe lời bà nội lại đẻ em Thúy, con bé dễ thương hết sức. Với em, nó dịu dàng chăm sóc từng li từng tí nghiêm nghị ít lời, nhưng ru em ngủ bằng những lời ca dao thắm đậm tình quê.
Sau mùa gặt tới cha nó định làm đám cưới cho nó, mẹ nó đang đăm chiêu tư lự dự tính cho ngày trọng đại của một đời người...
Nó ôm về ổ gà cả mẹ lẫn bầy con ríu ra ríu rít. Thoáng nhìn, nó buông lời chắc nịch:
- Tui lo hết trơn rồi! Bà đừng suy nghĩ chi cho đau đầu.
Không biết nó có nghĩ gì đến ơn cha nghĩa mẹ không? Nó chỉ biết ông bà nội nuôi nó bằng đồng tiền trợ cấp gia đình liệt sĩ. Khi nó đi làm, dư được đồng nào lại chạy đi mua gạo giúp cho bà tám Thơm, già bằng bà nội nó, bà cũng là cô nhi quả phụ của của chế độ cũ, nay nghèo khó rớt mùng tơi! Cha nó nói làm chuyện trời ơi.
Mong ước của ông bà nội có con đàn cháu đống nhưng cha mẹ nó chỉ sinh được hai mống. Thời buổi lạ kỳ, đất nước giàu lên thênh thang cao tốc, phố xá phồn vinh, xe hơi nhà lầu nhưng cha mẹ nó chỉ lo làm nuôi em Thúy đã bở hơi tai, học phí học thêm, đồng phục, bỏ ống heo ăn, kế hoạch lớn nhỏ, đủ thứ tiền tiền...
May nó mới bán bầy vịt định mua hai con bê, ông nội nhập viện không tiền đóng "thế chân" dù có bảo hiểm y tế, không thì cha nó cỏng ông nội về rồi. Nó không hiểu vì sao cái gì cũng tiền đi trước mới được việc, nó phản đối lời cha nó:"Đồng tiền đi trước là đồng tiền khôn". Khôn con mẹ gì cái kiểu mua chuộc lòng người bằng tiền? Cứu người hơn cứu hỏa, xe cứu thương hú còi inh ỏi ưu tiên nhưng đến phòng "cấp cứu" đành khựng lại vì không có tiền. Nó ra ngoài hành lang bệnh viện chửi đổng:"Tổ cha mẹ thằng bệnh viện".
Ông già cụt một chân chống tó nhìn nó nói to:
- Cậu đừng có chửi chung chung như Chí phèo chẳng ăn thua, phải chửi đích danh tụi hắn mới ngán!
Nó có biết tên "thằng" nào mà chửi!
......
Con bé bên kia sông tên Thụy hỏi nó:
- Anh có nhớ tui không?
Nó quay mặt, hình như "mắc tịt" (mắc cở) nói:
- Làm thấy mụ nội có rảnh đâu mà nhớ! Nhưng tui...
Thụy hiểu lòng nó nên không giận hờn chi mà còn toét miệng cười, rụt rè cầm tay nó:
- Tui nói chi mô (đâu)! Tui biết mà...
Nó nghe mà thương quá chừng chừng!
Thụy e dè:
- Bữa mô anh dắt tui về thăm cha mẹ.
- Chưa cưới hỏi mà dắt đi mô?
Nhìn con bé mặt đỏ tẻn tò mà thương quá!
Khi cha nó nhờ lão Khang "giang hồ" làm ông mai, đưa cha con nó qua nhà Thụy, hẹn ngày hỏi cưới chung một lần cho đở tốn kém. Nó liếc nhìn con nhỏ hình như bốn con mắt có đuôi.
Cưới xong vợ nó có bầu liền, cha mẹ nó hoan hỉ báo bà con làng xóm:
- Thằng Cu lớn sắp có con, không phụ lòng tui với ông bà nội nó.
Mẹ nó lặp lại y chang lời bà nội với con dâu mới:
- Nhà tao ba đời "nam đa nữ thiểu" nhớ đó nghe mi!
Thụy "nhéo" hông cu lớn, nói nhỏ:
- Ông bà chờ đó, tui đẻ cả chục...
Nó lùa bầy vịt về gần đến nhà, nó thấy vợ lom khom cấy ngoài ruộng, không nói không rằng bồng vợ về nhà, Thụy la ơi ới nhưng kệ mẹ. Thụy xấu hổ chữa thẹn:
- Anh làm cái gì chướng rứa anh?
Nó lấy gáo dừa múc nước trong lu dội vào đôi chân vợ, nói tỉnh bơ:
- Tui bồng thằng cu trong bụng...
- Cu lớn hay Cu nhỏ?
........
Nó lý sự:
- Ai nói tình yêu khó hiểu. Dễ ợt! Ngó thấy liền. "Bả" (mẹ nó) càng già càng mong những lời dịu ngọt, gừng càng già càng cay, khó tính trăm bề. Khi xưa đã một thời yêu nhau đắm đuối, có thể chết vì nhau mà nay như vỏ dừa với nước cốt?
Cha nó nghe, than thở:
- Đêm qua tao tính sang phòng "bả" hỏi đôi lời, cửa đóng then cài gõ hoài không mở. Tao nghĩ chắc bả đã ngủ say! Nhưng sao nghe tiếng nhạc âm vang lời người "viễn xứ" cứ như tiếng nấc nghẹn, thổn thức một dư âm? Đời người khổ tâm vì so đo. Nhàm phải chán thôi, khó có ai quen mãi một lối về! "Bả" hiện hữu nhưng hình như "bả"đã chết! Như tao đã "chết" trong lòng mẹ mi!
- "Ông" trôi ngược về chốn hồng hoang... Ông cứ thơ với thẩn, bả làm không hở tay còn "ông" cứ như người cõi trên...
Nó nói với cha nó như nói với ông hàng xóm, cha nó bực mình gắt:
- Cái thằng...
Càng lớn nó càng đẹp người, dáng phong trần như tay anh chị. Con nít nhìn thấy nó dù đang khóc cũng nín khe, đám thanh niên cùng lứa tỏ ra kính nễ vì cách chơi anh hùng mã thượng của nó. Nó bán cặp bò tơ lấy tiền giúp thằng bạn có vốn đi buôn trầm, một vốn bốn lời.
Lời đâu không thấy lại bị sốt rét ác tính suýt đi đong, may nhờ cùng loại máu O tiếp sức lọc máu. Từ bệnh viện nó liêu xiêu về nhà, vợ nó cười toe dìu nó vào nhà:
- Cu lớn hết máu!
Nói xong, ra vườn dụ con gà mái tơ hầm cháo đậu xanh cho nó bồi dưỡng lại sức.
Nó sờ bụng vợ lum lúp, nói bâng quơ:
- Siêu âm cũng con trai hả?
Nó chỉ con gà trong nồi cháo:
- Ăn đi!
Thời đại 4.0 người ta ăn nói anh anh em em ngọt xớt, nó nói không có chủ ngữ, cộc lốc nhưng vợ nó hiểu. Yêu thương đâu chỉ bằng lời, trái tim không biết nói nhưng biết rung động, thổn thức, nhớ nhung...
Gần tết, cải ra hoa vàng rực sáng cả khu vườn. Vợ nó đem nong củ kiệu ra phơi, nghe tiếng lạch bạch của chiếc honda cà tàng mẹ chồng đi máy gạo mới về, liền lăn xăn chạy ra đầu ngõ đẩy phụ vào sân. Mồ hôi chảy dài thấm ướt chiếc khăn màu cháo lòng của mẹ. Thằng Cu lớn đứng nhìn bằng ánh mắt chứa chan niềm thương cảm nhưng nó vội quay đi, không muốn ai biết nó bi lụy như mấy mụ đàn bà...
.....
Nó bắt con vit xiêm đực đi tết thầy H. ngày xưa là thầy chủ nhiệm năm lớp 8 cũng là năm nó chán ngấy học vì những chuyện ở trường. Cô thầy nào cũng bắt học thêm, dù các môn đó nó không thích, chỉ riêng thầy H. nói trong buổi sinh hoạt:
- Bộ môn của thầy các em học trên lớp là đủ nếu chịu khó nghe lời thầy giảng và làm bài tập ở nhà. Thì giờ còn lại cứ vui chơi hay giúp ba mẹ. Đó là học sinh ngoan và người con hiếu thảo.
Chỉ bấy nhiêu mà nó nhớ mãi đến bây giờ. Sau khi nó nghỉ học thầy H. cũng nghỉ dạy. Nghe nói bây giờ cuộc sống của thầy cũng khó khăn...
Nhìn con vịt xiêm có mồng đỏ chói, thầy H. hỏi nó:
- Em nuôi mấy tháng mới lớn như vầy? Mỗi ký giá bao nhiêu?
Nó không hiểu ý thầy muốn nói gì. Lần đầu tiên sau ngày biết ý thức làm người, mặt nó đỏ lên ấp úng như ngày xưa nó không thuộc bài.
Nó ra sau nhà thầy cột con vịt vào gốc cây mít rồi trèo qua hàng rào dâm bụt về nhà.
Thầy H. thở dài, cũng nhủ thầm lời như cha nó:
- Cái thằng...
Sau Noel không khí lạnh tràn về. It khi trời rét dưới 20 độ, nhưng năm nay hơi bất thường, đàn vịt co ro nằm cạnh nhau tìm hơi ấm. Nó mở cửa vào nhà cha mẹ, cha nó độc ẩm với chai rượu gần cạn, nó không ngờ cha nó già nhanh quá. Đôi mắt ông nhìn về cõi xa xăm, mơ hồ nào đó, nó ngồi xuống đối diện, nhìn vào khuôn mặt ông như lâu lắm rồi cha con không gặp. Nó nghe tựa như trong sâu thẳm lòng mình dâng lên một niềm yêu thương vô hạn. Nó chồm lên:
- Cha!
Đôi mắt cha nó như vô hồn, dại đi rồi gục xuống bàn. Cha nó đã đi rồi...
.....
Nó ngậm ngùi nghĩ về những người thân, ông bà cha mẹ mới ngày nào nay ba người đã không còn nữa. Nó sực tỉnh bừng vui trong niềm đau xót: Mình vẫn còn mẹ. Nó chạy ào vào nhà tìm mẹ, mẹ nó ngồi ủ rủ bên bàn thờ cha nó nghi ngút khói hương. Mẹ gầy sộp đi sau ngày ra đi đột ngột của chồng, hình như bà đang nhớ về những ngày xưa cũ...
Nó lặng lẽ đứng nhìn mẹ, nó thầm nhủ lòng mình hãy biết nói lời an ủi và chăm sóc cẩn thận mẹ hơn trong những ngày còn lại, nước mắt tự dưng ứa ra trên đôi má phong trần bụi bặm của nó. Thằng Cu lớn cũng biết khóc hở trời?
Nguyễn Châu

ĐÌNH HẠ NÔNG


  • Đình (chữ Nho: 亭) là một công trình kiến trúc cổ truyền ở làng quê Việt Nam, nơi thờ Thành hoàng. Thành hoàng là người có công với dân làng như: lập làng, lập nghề, dạy học, đánh giặc, cứu người... Cũng giống như thờ cúng tổ tiên, thờ cúng Thành hoàng của người Việt vừa là tín ngưỡng, vừa là đạo lý sống của hậu thế đối với bậc tiền bối có công với làng xóm, đất nước.
  • “Bia mộ thủy tổ tộc Trần Văn (Thanh Châu - Hội An) đã chép: “Vào thời Lê Thánh Tông (25 tháng 8 năm 1442 – 3 tháng 3 năm 1497) có chiếu trưng binh, ông Cao tổ dắt vợ con theo đoàn quân đánh Chiêm Thành, lập nhiều công trạng, sau đó ở lại Quảng Nam cùng các bạn nghề chài lưới khai phá đất bồi trưng tập dân cư biệt lập xứ Võng Nhi” (Nguyễn Bội Liên dịch). Bia ở đình Bất Nhị (Điện Bàn) chép: “Xưa xã ta vốn có 9 tộc họ cùng xây dựng địa phận làm thành xã Bất Nhị, đất đai mở rộng, dân đinh thêm đông, làm nên 3 thôn Thai La, Đan Điền, Bình Trị trong xã Bất Nhị”. Bia Trùng tu Thánh tự bi cũng ghi: “Chư quý công tiền hiền làng ta (xã Lỗ Giản - TG chú) là 5 tộc họ: Dương, Hồ, Lê, Nguyễn, Phạm từ phương Bắc theo nhà vua đến phương Nam lập nên làng xã”.
  • “Khi đức Gia Dũ hoàng đế vào mở mang đất Thuận Quảng, Công từ Bắc kỳ theo vào cùng với các ngài họ Trần, Huỳnh và Nguyễn đến khai khẩn đất này, ruộng được mấy trăm mẫu hơn; bên đông, bên tây có sa thủy quanh bọc nghiễm nhiên nên một làng gấm vóc vậy”, lời văn được ghi từ bia mộ chí Lê công - Tiền hiền xã Cẩm Phô. Hay tấm bia tộc Trần ở Cẩm Phô, Hội An có đoạn: “Ông thủy tổ thụy là Cần Thận công, trước đây giữ chức Phó đề lãnh Thiêm Lộc hầu, phát tích từ vùng Thanh Hóa vào Nam tìm chọn đất này. Người con trai là Trần Trung Lễ tiếp nối truyền thống tốt đẹp. Vào khoảng thời gian niên hiệu Cảnh Hưng đời vua Hiển Tông Hoàng đế triều Lê, các tiên hiền Cẩm Phô là tộc họ Hoàng, Lê, Nguyễn đồng thời khai khẩn đất đai, khống ngự sông Trường Giang mà lập nên địa giới, treo rèm châu để đề tên (xã). Đến nay cơ hồ đã 200 năm, truyền được 14 đời”.
  • Từ tư liệu bia đá này, ta thấy đoàn người Nam tiến trên vùng đất Quảng Nam xưa trải dài qua các thời kỳ, tương ứng với những đợt di dân mang tính chất quy mô của chính sách nhà nước phong kiến dưới thời nhà Trần, thời vua Lê Thánh Tông, thời chúa Tiên Nguyễn Hoàng. Tư liệu văn bia còn cho biết gốc gác bản quán của các dòng họ như từ Thanh Hóa, Nghệ An, Hoan Châu (Hà Tĩnh), Hải Dương…
  • Văn bia tiền hiền hậu hiền của Đông giáp xã Bàn Thạch (nay thuộc huyện Duy Xuyên, Quảng Nam) ghi rõ: Tiền hiền của làng gồm: 5 phái tộc Nguyễn Tấn, 3 phái tộc Võ Đức, 4 phái tộc Lê Công, 3 phái tộc Phan Viết; Hậu hiền gồm 10 tộc họ Võ, 4 tộc họ Đỗ, 5 tộc họ Trần, 7 tộc họ Nguyễn, 1 tộc họ Vương, 2 tộc họ Huỳnh, 1 tộc họ Lê, 1 tộc họ Lương, 1 tộc họ Mai, 1 tộc họ Diệp, 1 tộc họ Phan; hay như 6 tộc tiền hiền: Nguyễn, Thân, Đỗ, Thái, Trần, Ngô trong văn bia Trùng tu từ đường bi. Thứ tự ghi chép tên các tộc họ trên văn bia cũng theo trật tự cố định, nhất thành bất biến. Tiền hiền của làng còn được triều Nguyễn ban sắc phong. Một số văn bia khác cũng đề cập vấn đề này là Cải cấu từ đường bi, Đế Võng xã bi, Thần từ bi ký, Quế Trạch xã bi, Hương Quế xã Phạm từ phả ký, bia mộ tiền hiền tộc Lê (Cẩm Phô), bia mộ Tiền hiền tộc Lê (Thanh Châu) 1, bia mộ Tiền hiền tộc Lê (Thanh Châu) 2, bia mộ tiền hiền ở Hòa Mỹ, v.v.(1)
  • “Theo bước chân của vua Lê Thánh Tông đi mở cõi, các bậc tiền nhân đặt chân vào Điện Bàn, xứ Quảng, rồi khẩn hoang, lập làng lập xã. Hạ Nông xã, Câu Nhí xã, Châu Minh xã, Mỹ Á xã… những cái tên xưa cũ đã từng lưu dấu trong Bắc địa tấu từ. Và trong Ô Châu cận lục của Dương Văn An biên soạn năm 1553, các làng của Hạ Nông xưa, Điện Phước nay, đã được xác lập như Nông Sơn, Minh Châu, Bất Nhị…
  • Chỉ có hơn 11 cây số vuông, nhưng Điện Phước quần tụ đến 12 ngôi làng cổ, 50 tộc họ.
  • Xã Điện Phước phía Bắc giáp xã Điện Hòa, phía tây giáp Điện Thọ, phía Đông giáp Điện An, phía Nam giáp sông Thu Bồn. Rạch Bình Long nối dòng sông Thu Bồn băng qua làng, xuôi về sông Hàn, Đà Nẵng. Điện Phước là xã thuần nông, đồng bằng màu mỡ, nhờ phù sa của Sông Thu Bồn. Sông Thu Bồn bắt nguồn từ khối núi Ngọc Linh thuộc huyện Đăk Glei, tỉnh Kon Tum và đổ ra biển tại cửa Đại, thành phố Hội An. Một nhánh chảy vào sông Vĩnh Điện, đổ vào sông Hàn, Đà Nẵng. Trước khi đổ ra biển tại cửa Đại, một phần nước của sông chảy vào sông Trường Giang, đổ ra vịnh An Hòa Tam Quang, huyện Núi Thành. Sông Thu Bồn cùng với sông Vu Gia, hợp lưu tại Giao Thuỷ - Đại Lộc, tạo thành hệ thống sông lớn có vai trò rất quan trọng đối với đời sống và tâm hồn người dân xứ Quảng.
  • Ngày xưa…
  • “…..có 24 tên làng thuộc huyện Điện Bàn hiện tại: làng Đắc Ký, Hoa Thử (Phong Thử), Kỳ Lam, Giáng La thuộc xã Điện Thọ hiện nay; làng Nông Sơn, Bất Nhị, Hà Khúc (Hà Nông) thuộc xã Điện Phước, làng Đông Bàn thuộc xã Điện Trung, làng Đa Thử (Đa Hòa) Cẩm Đăng (Cẩm Văn), Giáo Ái thuộc xã Điện Hồng, làng Lỗi Sơn (Cẩm Sơn), Diễm Sơn thuộc xã Điện Tiến, làng Hoa Hồ (Đông Hồ), Bích Trâm thuộc xã Điện Hòa, làng Lai Nghi, Phong Hồ, Kim Sa (Cẩm Sa); làng Thị Lại (Thi Lai), Kim Lữ (Cẩm Lậu) thuộc xã Điện Phong; làng Nhân Triêm (Phú Triêm) thuộc xã Điện Phương, làng Uất Lũy, Cúc Lũy (Khúc Lũy) thuộc thị trấn Vĩnh Điện và xã Điện Minh, làng Kim Quất (Thanh Quýt) thuộc xã Điện Thắng.
  • ……
  • Lê Viết Bang, theo phò vua vào Nam chinh chiến, sau 1471 được vua Lê sai phái ở lại vùng đất Chiêm Động, có công khai khẩn đất hoang, qui dân lập ấp, lập nên làng Bằng An, nay thuộc xã Điện An.
  • …….
  • Có rất nhiều dòng Lê Tộc từ Thanh Hóa vào định cư tại đất Điện Bàn như Lê Tấn Viễn định cư tại Điện Dương, Lê Cao Xảo tại Điện Phước, Lê Viết Bảo tại Điện Nam, Lê Đường, Lê Tấn tại Điện Hồng, Lê Văn Đạo tại Đông Bàn, Lê Đắc Sùng tại Giáo Ái, Túy La (Điện Hồng), Lê Đắc Vinh tại Điện Hồng...
  • ……….
  • Trong tập san nghiên cứu lịch sử số 5 – 1993 của Viện Sử học Việt Nam có công bố một tài liệu gọi là Bắc địa tấu từ (bài tấu tâu về đất Bắc). Bài từ được viết ngày 12 – 6-1492 (năm Nhâm Tý Hồng Đức thứ 23) này là của 24 dòng họ từ các tỉnh phía Bắc, Cao Bằng, Nghệ An, Thanh Hóa, Hà Tỉnh, Hải Dương vào khai phá vùng Bắc sông Thu Bồn. Trong số đó có các dòng họ Phan, Hà, Trần, Thân, Nguyễn, Tào, Ngô, Đỗ, Đoàn, Đinh, Trịnh, Mai, Huỳnh, Từ, Mạc, Lê... Bài từ có nói đến các tên làng Nông Sơn, Hạ Nông, Châu Lâu, Đắc Ký...
  • Như vậy, tiền hiền các dòng họ đến sinh cơ lập nghiệp tại bắc sông Thu Bồn nói chung và Hạ Nông nói riêng từ giữa thế kỷ XV.
  • Đặc biệt hơn, sách Địa bạ Gia Long (soạn khoảng 1812-1818), tài liệu đầu tiên đề cập đến ngôi làng này lại gọi là xã Câu Dy. Sách viết: “xã Câu Dy (thuộc tổng An Nhơn Trung, huyện Diên Khánh: Đông giáp châu Giới Phiên (thuộc Phú Châu); các xã Khúc Lũy, La Qua, Uất Lũy (tổng Hạ Nông Trung); xã Bất Nhị (tổng Đa Hòa Trung). Tây giáp xã Hạ Nông, Bất Nhị (tổng Đa Hòa Trung); châu Doanh trấn Đông (thuộc Phú Châu); xã Bằng An (tổng Hạ Nông Trung). Nam giáp xã Hạ Nông, Bất Nhị (tổng Đa Hòa Trung); xã Bằng An (tổng Hạ Nông Trung), lấy bờ ruộng làm mốc. Bắc giáp các xã La Qua, Khúc Lũy, Hạ Nông (tổng Hạ Nông Trung), xã Hoa Long, Bất Nhị, châu Đông Bàn, Chu Phong, Liên Trì, Bằng An, lấy bờ ruộng làm mốc. Địa giới này hoàn toàn khớp với địa giới xã Câu Nhi trong các tài liệu khác.
  • Thêm nữa, gia phả họ Thân cho biết đến nay tộc họ này đã truyền được 16 - 17 đời. Không chỉ gia phả tộc Thân mà cả gia phả tộc Nguyễn Như (đồng tiền hiền của làng) cũng chỉ mới có 17 đời. Nếu lấy mốc 1471 thì đến nay đã gần 550 năm, ít nhất phải truyền đến đời thứ 21 - 22 (khoảng 25 năm một đời). Nếu chỉ truyền đến đời 17 - 18 thì mốc 1558 (Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa) hoặc 1602 (Nguyễn Hoàng vượt đèo Hải Vân vào kinh lý Quảng Nam) thì hợp lý hơn. Một nhà nghiên cứu trong tộc Nguyễn Như dựa vào gia phả của tộc họ mình đã suy đoán rằng có lẽ tổ tiên ông đã từ làng Câu Nhi của phủ Triệu Phong Quảng Trị vào khai phá vùng đất này trong khoảng thời gian từ 1558 - 1620 và lập nên làng Câu Nhi. Làng Bằng An bên cạnh cũng được thành lập trong thời điểm này vì tiền hiền của làng Bằng An chính là em ruột của đồng tiền hiền làng Câu Nhi, người thuộc dòng họ Nguyễn Như (ông Nguyễn Như Thăng và Nguyễn Như Đệ)”. (2)
  • Các gia phả học đều thống nhất ở Việt Nam ta mỗi thế hệ trung bình là 23,5 năm (Phương Tây là 25 năm). Vì vậy cứ nhân số thứ tự của đời hiện nay với 23,5 năm, ta có thể tạm biết vị đệ nhất thế tổ ấy đến Quảng Nam vào năm nào.
  • Tóm lại cuộc di dân của người Việt vào vùng nam Hải Vân là không phải kéo dài 700 năm suốt từ nhà Lý đến thời các vua Nguyễn mà có thể chia làm mấy giai đoạn chính:
  • 1. Từ 1360 đến 1402 là sự ổn định của vùng Bắc Hải Vân, mặc dù từ 1306 trên giấy tờ biên giới đã đến bắc sông Thu Bồn (châu Ô, châu Rí).
  • 2. Từ 1402 đến 1407 là giai đoạn tiền đề rất quan trọng để hình thành nên sự giao thoa của hai nền Văn Hóa Chiêm Thành – Việt Nam, để từ đó hình thành nên bản sắc văn hóa độc đáo của người Quảng Nam rồi sau đó là cả xứ Ðàng Trong đến tận Cà Mau sau nầy.
  • 3. Từ 1471 đến 1671 là 200 năm của những cuộc di dân ồ ạt, để rồi chấm dứt một cách hoàn toàn sau đó! Cũng như sự chấm dứt di cư 1448, sự chấm dứt di cư 1671 chính là điều kiện cần có để sự giao thoa đã hình thành đi vào ổn định, không bị pha trộn thêm, để cố định một bản sắc vững bền đến mức nhiều biến động sau nầy vẫn không thay đổi. (3)
  • Hạ Nông, xưa là một tổng nằm gần phủ lỵ Điện Bàn. Nay, đó là mảnh đất mà cái lõi là xã Điện Phước, được bao bọc bởi các dòng sông, lạch nước mang theo tình tự xứ sở như Thu Bồn, Câu Nhí, Bình Long… Theo bước chân của vua Lê Thánh Tông đi mở cõi, các bậc tiền nhân đặt chân vào Điện Bàn, xứ Quảng, rồi khẩn hoang, lập làng lập xã. Hạ Nông xã, Câu Nhí xã, Châu Minh xã, Mỹ Á xã… những cái tên xưa cũ đã từng lưu dấu trong “Bắc địa tấu từ”. Và trong “Ô Châu cận lục” của Dương Văn An biên soạn năm 1553, các làng của Hạ Nông xưa, Điện Phước nay, đã được xác lập như Nông Sơn, Minh Châu, Bất Nhị…
  • Chỉ có hơn 11 cây số vuông, nhưng Điện Phước quần tụ đến 12 ngôi làng cổ, 50 tộc họ.
  • Từ Hà Khúc đến Hạ Nông:
  • Làng Hạ Nông nay gồm các thôn Hạ Nông Đông, Hạ Nông Trung và Hạ Nông Tây của xã Điện Phước, thị xã Điện Bàn. Đây là một trong những làng cổ của Quảng Nam. Trong tác phẩm Công cuộc khai khẩn và phát triển làng xã ở bắc Quảng Nam từ giữa thế kỷ 15 đến giữa thế kỷ 18, TS.Huỳnh Công Bá cho rằng “Khá nhiều tộc họ ở các làng đã đến khai phá vùng bắc Quảng Nam vào cuối thế kỷ 15… cũng như 24 vị thuộc các họ Phan, Hà, Trần, Dương, Thân, Nguyễn, Huỳnh, Tào, Ngô, Đỗ, Đoàn, Đinh, Trịnh, Mai, Đề, Hồ, Mạc, Tống, Lê đến khai phá vùng trung tâm Điện Bàn…”. Dù không khẳng định trực tiếp nhưng qua đoạn trên tác giả đã cho biết Hạ Nông được 24 tộc họ thuộc lớp lưu dân “Bắc địa tùng vương” đến khai phá và lập làng vào cuối thế kỷ thứ 15 sau cuộc nam chinh của vua Lê Thánh Tông năm 1471.
  • Tài liệu cổ đề cập tên làng sớm nhất là Ô châu cận lục của Dương Văn An viết năm 1555 với tên gọi là làng Hà Khúc, một trong 66 làng của huyện Điện Bàn thuộc phủ Triệu Phong, xứ Thuận Hóa.
  • Dưới thời các chúa Nguyễn (1558 - 1776) trong Phủ biên tạp lục, Hà Khúc là một trong 24 xã của tổng Hà Khúc thuộc huyện Hòa Vang, phủ Điện Bàn. Sang thời nhà Nguyễn, dựa theo Địa bạ Quảng Nam soạn năm 1814, Hà Khúc được đổi tên thành Hạ Nông thuộc tổng Hạ Nông Trung, huyện Diên Khánh (sau đổi thành Diên Phước vào năm 1822, dưới thời Minh Mạng), phủ Điện Bàn. Sang cuối thời nhà Nguyễn, năm 1919, năm Khải Định thứ 3, theo Tạp chí BAVH (Bulletin des Amis du Vieux Hué - Tập san của Hội Đô thành hiếu cổ), làng Hạ Nông thuộc tổng Hạ Nông của phủ Điện Bàn.
  • Sau Cách mạng Tháng Tám, vào năm 1946, làng Hạ Nông thuộc xã Quý Cáp (tên danh nhân Trần Quý Cáp - lúc này Điện Bàn có 5/36 xã mang tên danh nhân). Lần hợp xã năm 1948, làng thuộc xã Điện Phước. Sau năm 1954, dưới thời Việt Nam Cộng hòa, Hạ Nông thuộc xã Kỳ Ngọc, quận Điện Bàn. Sau 1975, Hạ Nông trở lại thuộc xã Điện Phước như giai đoạn 1948 - 1954 và cho mãi đến nay.
  • Trên cánh đồng ở làng Hạ Nông nay thuộc địa phận thôn Hạ Nông Trung, có khu đất rộng độ 1500m2 địa thế khá cao so với chung quanh, vốn là một khu di tích Chăm đã đổ nát chỉ còn lại một số gạch ngói và tượng Chăm. Trong ngôi miếu có một bức phù điêu với hình một phụ nữ nên dân làng gọi là tượng Bà. Miếu thờ tượng Bà nên gọi là Miếu Bà. Sau này Miếu Bà bị tàn phá, người ta xây lên đó một ngôi chùa mang tên Hồng Phúc. Gần đây, trong khuôn viên ngôi chùa, một miếu nhỏ được phục dựng để thờ mấy pho tượng Chăm còn lại. Năm 2001 các nhà nghiên cứu Ngô Văn Doanh, Nguyễn Chiều đã đến đây và phát hiện tại đây có hai bức phù điêu độc đáo. Đó là phù điêu Shiva - Gauri và phù điêu Vishnu - Garudasama. (…) Vishnu là một trong 3 vị thần tối thượng của Hindu giáo, chỉ sau thần Brahma (thần sáng tạo), đứng trên thần Shiva. Vishnu luôn là vị thần nhân bản nhất, bất kỳ ở nơi nào mà những thế lực độc ác bắt đầu thống trị thì Vishnu xuất hiện để cứu con người. Còn chim thần Garuda là hình ảnh mặt trời biểu hiện cho cái tinh thần bao trùm lên tất cả mọi vật do tạo hóa sinh ra. (4)
  • Với tấm lòng biết ơn các vị tiền nhân đã có công khai phá, sinh cơ lập nghiệp. Sau khi đã tạm ổn định cuộc sống, con cháu các dòng họ tại Quảng Nam cùng nhau lập nên các đình làng để ghi nhớ công ơn tiên tổ, Thần hoàng (các vị tiền hiền) và các người có công với đất nước, thôn làng đã dày công tạo lập cho các thế hệ đời sau có cuộc sống no đủ, yên vui. Hằng năm, Xuân - Thu nhị kỳ các đình làng tổ chức lễ cầu an (kỳ yên) nguyện cầu quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu…
  • Nhất sái thiên thanh (Trời thêm thanh bình)
  • Nhị sái địa linh (Đất thêm tươi tốt)
  • Tam sái nhơn trường sanh (Người được sống lâu)
  • Tứ sái quỷ diệt hình (Quỷ dữ bị tiêu diệt).
  • Đình làng Hạ Nông cũng như bao nhiêu đình làng ở quê hương Điện Bàn, được xây dựng có lẽ cùng thời với các làng có tiền hiền của các họ tộc đã đến đây vào cuối thế kỷ XV. Theo TS Huỳnh Công Bá: “Khá nhiều tộc họ ở các làng đã đến khai phá vùng bắc Quảng Nam vào cuối thế kỷ 15… cũng như 24 vị thuộc các họ Phan, Hà, Trần, Dương, Thân, Nguyễn, Huỳnh, Tào, Ngô, Đỗ, Đoàn, Đinh, Trịnh, Mai, Đề, Hồ, Mạc, Tống, Lê đến khai phá vùng trung tâm Điện Bàn…”.
  • “Ngó ra sông Cái, ngó ngoái thấy đình
  • Hạc chầu thần còn đủ cặp, huống chi mình muốn lẻ đôi
  • Nguyện thề trước miếu sau đình
  • Đó vong ân đó chịu, đây bạc tình đây mang”
  • (ca dao)
  • Nguyễn Châu
  • (Tổng hợp)
  • Tài liệu tham khảo:
  • (1) NGUYỄN DỊ CỔ
  • https://baoquangnam.vn/.../dau-tich-tien-hien-quang-nam...
  • (2) LÊ THÍ
  • https://baoquangnam.vn/.../cau-nhi-ngoi-lang-xu-quang...
  • (3)https://tocnguyenhuuthanhquyt.wordpress.com/.../dong-h.../
  • (4) LÊ THÍ
  • https://baoquangnam.vn/.../nhung-co-vat-cham-doc-dao-o...
  • Ảnh: Đình La Qua.
  • P/S:
  • CA DAO QUẢNG NAM:
  • Quảng Nam là xứ tỉnh ta
  • Trong là Quảng Ngãi, ngoài là Thừa Thiên
  • Phía đông là biển sát miền
  • Phía tây có núi, gần miền Ai Lao
  • Đà Nẵng tàu lớn ra vào
  • Hội An là phố đông người bán buôn
  • Sông xanh một dải Thu Bồn
  • Sông từ chợ Củi đến nguồn Ô Gia
  • Tỉnh thành đóng tại La Qua
  • Hội An toà sứ vốn là việc quan
  • Bốn phủ, bốn huyện mọi đàng
  • Quan viên cai trị luận bàn việc dân
  • Đá than thì ở Nông Sơn
  • Bồng Miêu vàng bạc, Quế Sơn có chè
  • Thanh Châu buôn bán nghề ghe
  • Thanh Hà vôi ngói, mía che Đa Hoà
  • Phú Bông dệt lụa, dệt sa
  • Kim Bồng thợ mộc, Ô Gia thợ rừng
  • Ngà voi, tê giác, gỗ rừng
  • Trân châu hải vị chẳng từng thiếu chi
  • Tỉnh ta giàu nhất Trung kỳ
  • Nên ta phải học lấy nghề tự sinh…
  • *******
  • Xa nhau cách mấy con trăng
  • Đêm nằm lơ lửng, uống ăn không thường
  • Không biết ai tôi nhắn với người thương
  • Nhắn anh dầu phụng Quán Rường mới ra
  • Nhắn bạn hàng Phong Thử, Hà Nha
  • Nhắn người Vĩnh Điện, La Qua xưa rày
  • Nhắn người quen biết xưa nay
  • Nhắn ông đi cuốc đi cày cũng không
  • Chợ chiều tôi nhắn chị hàng bông
  • Nhắn cô gánh nước, nhắn ông đưa đò
  • Nhắn người chuyển miệng giùm cho
  • Nhắn người cắt cỏ, giữ bò giữ trâu
  • Nhắn ông đi úp sông sâu
  • Nhắn ông bủa lưới giăng câu dọc gành
  • Nhắn người đốn củi rừng xanh
  • Nhắn cô bán cá, nhắn anh bán trầu
  • Nhắn người ở dưới Câu Lâu
  • Nhắn cô bán vải ở cầu Bình Long
  • ********
  • Con gái La Qua, qua hôn, qua hít, qua vít, qua véo, qua chọc, qua ghẹo, qua biểu em đừng có la qua.
  • Con gái Phước Chỉ, chỉ xấu, chỉ xa, chỉ lười, chỉ nhác, chỉ bài, chỉ bạc, chỉ có chồng là may phước chỉ.

HAI ĐIẾU SAMIT

 

Tôi nhận giấy mời từ tay chú dân quân: "Mời ông sửa xe đạp. Đúng 8g ngày... tháng... năm 198... Đến văn phòng ban Ấp. Lý do: Cho biết sau...

Tôi che tấm bạt bên đường vá xe đạp, tôi chẳng biết làm gì ngoài nghề đã từng đi dạy học.
Tiếng gà gáy sáng vang lên từ đâu đó, nhìn trời mây u ám mà lòng tôi nặng trĩu, chờ sửa hay vá xe có tiền sẽ đi trình diện. Điếu thuốc miếng trầu là đầu câu chuyện mà, tôi định mua hai điếu thuốc SAMIT ở quán cafe bà M. Nhưng đâu có mua thiếu được.
Hơn 8g, văn phòng ban Ấp vẫn còn đóng cửa, lát sau có một người thọt chân, mắt lé lạch cạch bước vào, tôi định đưa tay đỡ vì nghĩ anh khuyết tật này cũng bị mời như tôi. Bỗng tôi giật mình, đôi mắt lé trợn trắng gạt mạnh tay, lạnh lùng móc xâu chìa khóa. Giọng hách dịch:
- Anh sửa xe hay hớt tóc? Vô đây.
Té ra năm Hơn, trưởng Ấp.
Tôi khẽ khàng ngồi xuống băng ghế dài, bối rối lấy ra hai điếu thuốc SAMIT. Từ sáng đến giờ thỉnh thoảng tôi đưa tay áp nhẹ túi áo sợ hai điếu thuốc không còn thẳng thớm chứ không phải hồi hộp lo sợ gì.
Tôi đặt nhẹ hai điếu thuốc trước mặt năm Hơn, mắt năm Hơn đăm đăm nhìn tôi nhưng hai con ngươi quay ngoắt sang hướng khác:
- Anh ở mô tới đây? Giọng trọ trẹ khó nghe.
- Tôi ở…
Tôi định nói: Ở tiệm sửa xe đạp nhưng “tiệm” to quá, sang quá.
- Nì, làm chi cũng có phép có tắc, chấp hành chủ trương đường lối chính sách nghiêm túc. Sống, làm việc theo hiến pháp và pháp luật, nghe rõ chưa? Không phải ai muốn làm chi thì làm. Loạn hết, loạn hết!
Âm lượng năm Hơn càng nói càng hăng, sùi bọt mép.
- Làm đơn, làm đơn...
Năm Hơn tỉnh rụi nhón lấy điếu thuốc đưa lên môi, bật quẹt lửa rít một hơi dài, mùi khói thuốc thơm dịu loảng tan bay nhẹ trong ánh nắng ban mai xuyên vào cửa sổ. Tôi chưa được hút thử loại thuốc này lần nào, chỉ dùng toàn thuốc rê...
Tiếng kèn xe đò chạy than rít lên, phả làn khói mù mịt khiến tôi suýt ngộp thở. Năm Hơn nhìn tôi quát:
- Chạy đi, dừng làm chi đó?
Té ra năm Hơn quát tài xế xe đò.
Suốt đêm trằn trọc chờ sáng, tôi buâng khuâng không biết kính gởi ban Ấp hay Ô. năm Hơn.
Tôi trầm ngâm nghĩ ngợi, tấm bạt che vá sửa xe đạp giăng bên lề đường, cột vào hai cây cao su già để nương nhờ bóng mát làm sao có số nhà hay địa điểm cụ thể nào!
.......
May quá chuyện gì cũng qua, có lẽ tôi ở hiền gặp lành. Gần Tết, rừng cao su rụng lá trơ cành đưa lên trời như đôi tay khẳng khiu của những người lam lũ. Những chuyến xe than chạy qua kéo theo bụi đỏ mịt mù, dòng mương nhỏ từ nhà máy cao su mang theo mùi khê nồng tan loãng trong không khí xộc vào mũi khó ngữi. Tôi đang loay hoay tìm trong thùng đồ nghề lấy dụng cụ sửa xe đạp cho chị bốn Hơn. Bỗng chị kéo vai tôi, biểu ngồi trên thùng đạn:
- Đi theo chị làm vài chuyến kiếm tiền mua áo quần cho mấy cháu, chị thấy tội quá!
Mà thiệt, đứa con trai lớn mới tám tuổi của tôi đang ngồi vá xe đạp mặc chiếc quần tây cũ cắt ngắn, đưa cái lưng trần lòi xương.
- Làm gì chị?
- Đi buôn tiêu...
Thời buổi ngăn sông cấm chợ, tôi ngần ngại:
- Lỡ bị bắt, hết vốn. Mà em không có vốn...
- Đừng lo, mua trước trả sau. Em có quần dài nào rồng rộng không?
- Em chỉ có quần xa-vi-ot mua ở hợp tác xã...
- Không được, loại đó ống quần ngồi xuống đứng lên như cái lò xo, kiếm cái quần lính...
Mấy hôm sau chị bốn Hơn đem cái quần treillis cũ của chồng chị biểu tôi cởi quần mặc thử, quần rộng thùng thình, chị ngắm nghía ra vẻ hài lòng:
- Được rồi!
Tôi chưa hiểu ý chị, chị ra ngoài đem vào hai bịch tiêu khoảng mấy ký được bỏ vào ruột tượng may bằng bao cát. Chị lại biểu cởi quần ra, chị ốp ruột tượng tiêu vào hai ống chân tôi, bó lại bằng dây nylon.
- Mặc quần vô!
Tôi làm theo lời chị, đi tới đi lui...
Chờ nông trường kéo còi, khoảng 5g sáng hai chị em leo lên xe than về Saigon. Tôi ngồi gần cửa lên xuống, mùi khí carbon dioxyt hăng hắc khó chịu nhưng không khổ sở bằng hai bắp chân bắt đầu nóng lên ngứa ngáy. Thấy tôi ngọ ngoạy không yên, chị bốn Hơn nháy mắt ra dấu ngồi im. Từ Trảng Bom qua Hố Nai chỉ hơn mười cây số tôi tưởng chừng như xa vạn dặm. Không còn gì khổ hơn phải chịu đựng cả nóng lẫn ngứa mà không được gãi!
Xe từ từ tấp vào trạm quản lý thị trường ngã ba Vũng Tàu, hành khách bị lùa hết xuống xe. Tôi tưởng chừng như được giải thoát, đi nhanh về phía bụi cây ven đường tha hồ gãi ngứa nhưng:
- Anh kia, quay lại đây!
Cái ống kim loại có đầu nhọn hoắt thọc vào ống quần... Chị bốn Hơn nhìn thấy muốn trào nước mắt, tôi lại thấy những đôi mắt thiếu đói của lũ con tôi dõi theo những hạt tiêu mẹ tiêu con chảy tràn ra đất.
Họ thu mua... Họ thanh toán sòng phẳng chỉ đủ tiền xe và hai ổ bánh mì.
Bỗng nhiên tôi nhớ đọc ở đâu đó:
"Và khi bạn yêu thích tất cả những việc mình làm để kiếm sống, trong cả cuộc đời, bạn sẽ không bao giờ mệt mỏi với công việc". Bruce Karatz
Chị bốn Hơn an ủi:
- Em đừng buồn, thua keo này mình bày keo khác. Chuyện tiền nong mấy ký tiêu ra Giêng chị tính cho.
Vậy là áo quần mới cho con mặc Tết bay theo gió bụi. Lũ nhỏ nhìn thấy cha về trên tay cầm hai ổ bánh mì tưởng cha trúng mánh mừng nhảy tưng tưng. Tôi ngồi nhìn hai bắp chân nổi sần chưa hết ngứa mà nỗi lòng không biết tỏ cùng ai. Nói ra sợ vợ con buồn, tôi đạp xe ra chợ mua sáu cái trứng gà về làm ốp-la để cả nhà ăn mừng vì đi buôn thắng lợi hơn sửa xe đạp.
Tôi ngán đi buôn tiêu, chị bốn Hơn nói đậu nành đang có giá.
Ngày mai ông Táo về trời nhưng bếp núc quạnh hiu, xóm Hố chìm trong màn đêm âm u chỉ nghe tiếng côn trùng rả rích buồn thúi ruột. Tôi bật dậy ra sân nhìn bầu trời xanh ngắt đầy sao long lanh mong tìm phương kế đổi đời như ngày xưa đưa tàu hải hành khơi xa nhìn chòm sao Bắc Đẩu để xác định phương hướng đường về.
Quyết làm ăn lớn nhưng không có vốn, nhìn trước nhìn sau không có tài sản nào đáng giá ngoài chiếc xe đạp mini và cái đồng hồ "Seiko 5".
Ngoài vốn tự có cộng thêm vay mượn mua được một tạ đậu nành. Tôi hì hục cho vào túi bao cát, mỗi bao mười ký. Sáng ra chị bốn Hơn ghé nhà, tôi chỉ đống bao đậu nành được phủ tấm nylon, các con tôi đang ngủ ngon lành trên chiếc giường mới. Chị cười:
- Chuyến này chắc ăn như bắp, có xe bộ đội chở giùm mình lại không tốn tiền. Chị cũng làm hai tạ nhưng mình phải thồ băng lô cao su đến đường đất sau lưng nhà má chị, họ cho lên xe ở đó...
Tôi mượn chiếc xe sườn mobilet của P. thường hay thồ chuối chất mỗi lần năm bao đậu nành lên xe, che chắn cẩn thận. Hàng gởi nhà mẹ chồng chị bốn Hơn gần điểm hẹn an toàn, tôi thở phào uống cạn ca nước quày quả ra về để chuyển tiếp năm bao còn lại.
Đường lô cao su lồi lõm, mùa khô miền Đông Nam bộ đất bazan đỏ quạch xen lẫn đá vụn, đẩy xe thồ về không còn mệt bở hơi tai như lúc đi, tôi cất tiếng hát hân hoan vang lừng giữa rừng cao su hoang vắng, niềm hy vọng sáng ngời trước mắt xua tan bao nỗi nhọc nhằn trong tôi.
Chuyến thứ hai đi gần đến nơi, mặt trời đã treo lơ lửng trên đầu, tôi tựa xe vào gốc cao su lấy khăn lau mồ hôi đã ướt đẫm cả áo lẫn quần. Con chim bìm bịp từ bụi cây rậm bay vụt lên, mất hút về phía đoạn đường tôi đã đi qua.
Tôi nhủ lòng mình: Cố lên tôi ơi! Nghị lực sống của tuổi ba mươi còn sung mãn đâu sá gì gian khổ. "Đường đi khó không khó vì ngăn sông cách núi mà khó vì lòng người ngại núi e sông" (Nguyễn Bá Học)
Gần đến nơi, bỗng tôi nghe văng vẳng tiếng ai kêu khóc giống tiếng mẹ chồng chị bốn Hơn. Tôi dừng lại nghe ngóng đồng thời đẩy xe tránh khỏi đường lô, giấu hàng bên gốc cao su già. Tôi thả bộ về phía trước, tiếng quát tháo giọng đàn ông nghe như tiếng sấm:
- Đậu nành này ở đâu ra? Bà khai ngay...
Tôi lùi lại chạy về chỗ chiếc xe thồ, cố đẩy xe về hướng nhà bạn để trả, nếu xe bị tịch thu thì...
Tôi đi như chạy quay lại nơi giấu hàng, tim tôi đập thình thịch trong lồng ngực khi năm bao đậu nành của tôi không cánh mà bay...
Tôi chưa dám tìm gặp chị bốn Hơn để hỏi thăm tình hình, có còn xơ múi được gì không?
Tôi thất thểu về nhà, nhìn bộ dạng thiểu não của tôi mấy đứa con đứng xa lấm lét nhìn, tôi ôm thằng bé nhất gần hai tuổi trần truồng đang bò dưới đất, mặt mũi lấm lem như thằng hề, tôi bỗng bật cười ha hả mà nước mắt ứa ra, mấy đứa khác chạy trốn mất chắc chúng nghĩ cha nó lên cơn điên.
Vợ tôi gánh nồi niêu bán mì Quảng ở chợ vừa về lom lom nhìn hai cha con tôi, không hiểu chuyện gì đã xãy ra. Tôi vồn vã:
- Bán hết không em? Nghỉ mệt đi, để anh rửa cho... Lời được bao nhiêu?
- Mười lăm đồng.
Tôi mừng thầm, được năm ký gạo đâu phải chuyện chơi!
Tiếng còi nông trường hú dài trong sương sớm, mọi ngày giờ này vợ tôi đã dậy nhóm lửa nấu nước lèo, phần tôi xắt mì thành sợi và chuẩn bị quang gánh cho nàng ra chợ. Nhưng hôm nay... Tôi lay vai nàng:
- Sao không dậy đi bán?
Giọng nàng nghe chừng thút thít, đáp xụi lơ:
- Ngày nào cũng lỗ...
- Sao em nói là lời?
- Nói cho anh... vui!
Hỏi ra còn thiếu nợ người ta hai con gà và mười ký gạo.
Tôi ngồi nhìn mây trắng bay, bình minh đã ửng hồng trên đỉnh núi Sóc Lu. Hoa đào hoang từng chùm tím ngát ngoài bờ rào lả tả rơi theo từng cơn gió cuối đông.
Người xưa đã từng nói:"Cùng tắc biến, biến tắc thông, thông tắc cửu” (nghĩa là: Mọi sự đến cực điểm thì tất phải biến đổi, khi có biến đổi sẽ thông suốt)
Không thể uống rượu tiêu sầu như Cao Bá Quát, càng không thể không "trầm tư bách kế"...
Nhưng kế gì đây?
Nguyễn Châu

TRĂNG TREO MÁI LÁ

Tôi đi loanh quanh vì không biết đường, vác trên vai bao tải nặng trịch. Bỗng nhiên cô gái từ trong nhà bước ra chận đường: - Anh tìm ai mà...