Thứ Sáu, 3 tháng 5, 2024

NIỀM TIN YÊU


Nàng đẹp, không dám nói thiên kiều bá mị nhưng trong mắt Anh, nàng là giai nhân tuyệt thế. Anh đánh bạo hỏi nàng:
- Em dám yêu anh không?
Không ngờ nàng gật dầu cái rụp.
Nói vậy thôi, ban đầu Anh chỉ xem nàng như người bạn gái dễ thương nhưng từ khi là bạn thực sự của nhau, càng hiểu nhau hơn Anh thầm cảm phục nghị lực của nàng trong cuộc sống, giá trị của nàng tăng dần trong Anh, nó thăng hoa kỳ cục, đến nỗi không lúc nào hình bóng nàng rời khỏi tâm trí. Anh luôn suy nghĩ về nàng và miên man trong tưởng nhớ.
Một hôm nàng nói:
- Da anh xanh tái!
Anh không hiểu, hỏi lại:
- Sao em nói rứa?
- Mai em đưa anh đi khám bệnh. Anh tự ái:
- Chưa bao giờ anh khỏe như bây giờ, em thấy đó mỗi lần…
Nàng buồn xo, nhìn ánh mắt như có mây giăng, Anh cảm thấy hạnh phúc vô cùng. Trên trái đất này ai mong ai nhớ, ai chăm sóc ta, ai lo lắng cho ta, đó là nơi chốn cuối cùng của đời ta.
Nàng trọng thị, xem Anh như vì tinh tú lạ, ai không muốn mình là đế vương trong cuộc sống hữu hạn này kia chứ, nhất là khi đã trải qua biết bao gông tố trong đời.
Có vinh quang nào không từ cay đắng, có nghị lực nào không từ khổ đau? Nàng than thở sao không bứt vòng cương tỏa, đời còn có bao lâu?
Anh lơ đễnh nghe, quá khứ đã qua rồi, tương lai chưa đến, hiện tại đáng giá ngàn vàng sao không trân trọng. Nàng nhìn Anh, xót xa:
- Niềm vui anh thường sẻ chia nhưng nỗi buồn anh đang giấu kín...
Nàng là mẹ đơn thân. Cánh cò cô đơn, dặm trường mưu sinh trong thời thế nhiễu nhương đầy mưu toan, lạm dụng. Đời nghệ sĩ của nàng, mấy ai tin không sa vào bẩy rập?
Những đêm khuya dưới ánh trăng tàn, đèn đường hiu hắt, thân cò lặn lội về vùng ngoại ô xa ngái, lẽ nào không có bóng ma trơi?
Sự thuỳ mị, nết na của cô con gái, đã chứng minh cho tấm lòng và bản lĩnh người mẹ. Nàng như con ong thợ, chắt chiu từng giọt mật cho đời, tạo dựng cho riêng mình mái ấm đơn sơ, nhưng rộn rã tiếng cười.
Anh nhìn lại mình, mỗi ngày một tàn tạ, tình đời nhạt phai theo sa cơ lỡ vận. Có lúc Anh muốn giải thoát bằng liều độc dược. Nàng nhìn Anh đăm đăm:
- Hãy tự đứng lên nơi mình đã ngã, đến chân núi ắt sẽ có đường!
Anh không muốn gieo vào lòng nàng nỗi buồn phiền riêng của đời mình. Nhiều lần Anh muốn xa rời, ẩn mình vào chốn thiền môn. Anh xa lánh hẳn bạn bè, trầm ngâm nhìn áng mây bay, tan dần trên bầu trời xanh màu biển. Hoàng hôn tím thẩm nhấn chìm Anh trong bóng tối. Niềm tin yêu cuộc sống, chỉ còn le lói như ánh nắng đỏ ối hiếm hoi còn sót lại của vầng dương. Sự chán chường, bạt nhược đang đốt dần mòn sinh lực. Nhưng rồi thần ái tình Eros bất ngờ giương cung bắn mũi tên xuyên nát trái tim Anh.
Tự nhiên Anh cảm thấy xấu hổ với nàng. Tiếng xe máy vang trên đường vắng, đêm đã vào khuya. Trời đầy sao, chiếc bóng nhỏ nhoi tội nghiệp, ánh đèn rọi sáng chỗ Anh ngồi. Nàng ngạc nhiên khi trông thấy Anh:
- Chờ em làm gì?
- Anh sẽ đưa em đi làm...
Tiếng hát, giọng ngâm và nhân dáng của nàng đã khiến biết bao con tim rung động và thổn thức. Nàng cứ lửng lơ như lục bình trôi giữa dòng đời nhưng vững chãi và biết bảo vệ mình như loài ong cần mẫn.
Anh đã sa lầy và thất bại trong sinh kế, những dự án tưởng chừng sẽ đưa Anh đến đỉnh vinh quang nhưng phút chốc đã tan tành theo cơn lũ dữ. May thay, Anh không vướng vòng lao lý nhưng đã trắng tay. Anh như rơi từ chín tầng mây nên tâm thần lơ ngơ như kẻ mộng du. May sao, Anh lại gặp nàng.
Sự ân cần chăm sóc của nàng đối với Anh hình như không có thật. Anh nghi ngờ chính mình và tình yêu của nàng, mọi chuyện cứ như trong mơ và huyễn hoặc.
Nàng mong được gì từ nơi Anh, Anh như xác ve khô vật vờ trong gió bụi cuộc đời. Những cơn mất ngủ triền miên khiến Anh hốc hác, nụ cười gượng gạo cho vui lòng nàng, nhìn Anh càng tệ hại. Anh lao vào chuyện văn chương, dốc hết tâm sự đời mình qua từng con chữ, tiếng bàn phím khô khan như đánh thức tiềm năng nào đó trong Anh. Anh như được hồi sinh.
Nàng vui mừng khi má môi Anh có sắc hồng sinh khí, nàng khuyến khích và ngợi ca Anh như một văn tài vừa được khám phá. Nhưng tác phẩm đầu tiên không phải chuyện văn chương, mà là một sinh linh xinh đẹp, ngoan hiền đã bao năm bị Anh vô tình lãng quên vừa được trùng phùng.
Anh lao vào công việc, Anh làm bất cứ việc gì có thể kiếm ra tiền. Căn nhà có giàn hoa giấy ở ngoại ô bừng sáng, niềm tin yêu cuộc sống trong Anh hình như chưa hề mất bao giờ.
Nguyễn Châu

PHÙ SA SÔNG THU BỒN

 Tặng các bạn tôi ở Điện Phước quê nhà và kính viếng hương linh những người đã khuất...

....
Sông Thu Bồn chảy về cửa Đại
Lạch Bình Long chảy mãi ra Hàn
Ai về Đà Nẵng, Hội An
Cho ta nhắn gửi vài hàng tâm tư
(Ca dao)
Ba-lô khăn gói hồi hương, nhìn căn nhà rách nát của cha mẹ, lòng tôi dâng lên nỗi ngậm ngùi. Nơi đây, những ngày thơ ấu yên bình đã khắc sâu vào tiềm thức. Những dòng ký ức tuôn trào không theo lớp lang nhảy múa trong tôi. Nhìn thân hình tiều tụy của cha chưa đến tuổi 60, gập người ho hen dữ dội bởi bệnh viêm phổi mãn tính. Mẹ tôi con gái thị thành sông nước Đò Xu - Đà Nẵng, chưa biết làm ruộng bao giờ, xoắn quần ống thấp ống cao bắt từng con ốc, con cua đồng... Mặt mẹ ửng hồng lên rực rỡ mừng vui khi tôi đã trở về...
Chính tôi cũng chưa quen với công việc đồng áng, trả công thay cho mẹ lúc cầm liềm gặt lúa, khi cuốc đất, nhổ mạ...
Nghỉ ngơi được mấy ngày, tôi mượn chiếc xe đạp mini đạp dọc theo tỉnh lộ 20 về hướng chợ Bình Long, Bất Nhị...
Chợt ý nghĩ "gò thùng" gánh nước bật lên trong tôi.
.......
Ngồi nhờ trước hiên nhà bác D. ở Bát Nhị, Điện Phước tôi gò thùng bằng tole phế thải mua lại của các bà bán ve chai.
Khách hàng đầu tiên đặt đôi thùng gánh nước lại là bác D. gái. Tôi mừng quýnh khi nhân được năm đồng (5đ) đặt hàng. Tôi đạp xe lên cửa hàng hợp tác xã mua hộp sữa cho con, vòng qua chợ mua cau tươi, vôi ăn trầu cho mẹ.
Bà con quanh xóm thương tình hỏi han nhưng vì thùng tole không tiện lợi bằng thùng thiếc đựng nước mắm nên chỉ ngồi chơi xem tôi... gò.
Đang lui cui vào đáy thùng, ngước lên thấy Ngô Minh Hiền - cán bộ hợp tác xã Điện Phước ngạc nhiên nhìn tôi, sao tôi lại làm cái nghề xưa nay hiếm ở quê tôi. Hai anh em ngồi nhìn nhau, điếu thuốc trên tay tôi tóe lửa, thuốc điếu bỏ bao nylon rẽ rề.
Hiền gợi ý:
- Hợp tác xã mời anh đi đo đạc, làm bản đồ giải thửa...
- Làm sao anh đo... được?
(Nghĩ thầm: Nếu được cũng nhẹ nhàng hơn cuốc đất...)
Bỗng Tào Bạn - Cán bộ phụ trách bổ túc văn hóa xã đi ngang qua, ghé vào mời tôi dạy BTVH cho các em ban đêm.
Thật là một ngày cát tường, tôi hứa trả lời sau khi hoàn tất ba đôi thùng gánh nước.
Sau khi thu dẹp đồ nghề và cám ơn bác D., tôi theo anh em đi đo đạc.
Ban ngày cùng anh Đinh Văn Khóa, Nguyễn Đức Thu, Ngô Minh Hiền vác máy, cầm mia đo từng thửa ruộng từ Hạ Nông, Bàu Lát, La Hòa, Nhị Dinh, Miên La...
Sáng đo, chiều ngồi tính toán diện tích...
Mùa Đông, ngày ngắn đêm dài, mới sáu giờ chiều trời đã buông màn chập choạng. Những khuôn mặt bừng sáng, xinh đẹp trẻ trung dưới ánh đèn dầu "hột vịt" lung linh huyền ảo đã khiến tâm hồn tôi dâng lên niềm cảm thương khó tả. Đã lâu rồi tôi mới được trở lại với bảng đen và phấn trắng cùng những đôi mắt thơ ngây bừng lên niềm tin yêu của các em.
Tôi phụ trách các môn toán, lý, hóa và anh chàng Trần Hoài Thanh - Thanh Tranhoai (thầy thuốc Đông y nổi tiếng bây giờ) phụ trách môn văn và tiếng Việt. Nguyễn Đức Thu bao thầu cấp 1.
Sau mùa thu hoạch lúa, thù lao của các thầy được "hiệu trưởng" Tào Bạn đãi hai tô mì Quảng bà Thanh ở Vĩnh Điện.
Nghề gò coi bộ không có... tương lai, tôi nảy ra làm thêm vá sửa xe đạp.
Đêm về, tôi tháo chiếc xe cà tàng ra từng bộ phận để nghiên cứu, ghi nhớ, khi nào rãnh rỗi đạp xe xuống tiệm sửa xe của Trần Lý ở Điện An (nay ở Saigon) ngồi chầu rìa học mót cách vá xe đạp, lộn... sên (tôi chưa từng nghe qua - sẽ kể về vụ lộn sên ở phần sau).
May quá, nhờ Ngô Minh Hiền gợi ý xin được rẻo đất ngoài đường lộ, ngay ngã ba đường cái mới và cũ mở tiệm vá sửa xe đạp...
(Những nhân vật tôi vừa kể chỉ mới lướt sơ qua và còn nhiều nhân vật nữa ở xã Điện Phước đã để lại trong tâm khảm của tôi những cảm xúc bất tận và những ơn nghĩa không bao giờ quên, từ từ tôi sẽ kể bạn nghe).
Những năm cuối 70s tình trạng xăng dầu khan hiếm nên các loại xe cũ như Suzuki, Lambretta, Yamaha... sẳn sàng đổi ngang xe đạp. Ông em rễ hào phóng của tôi tặng anh vợ chiếc Suzuki cũng còn ngon lành nhưng đắp mền. Tôi mừng húm, mua được ít xăng pha nhớt đổ vào, chạy về quê.
Trần Hoài Thanh đến nhà chơi, thấy xe khoái quá ngõ ý mượn chở vợ đi đám cưới ở Thanh Khê, Đà Nẵng. Hôm sau tôi vừa mở cửa đã thấy hai vợ chồng Thanh bơ phờ vì xe nổ lốp không có ai bán vỏ xe để thay nên chồng... ngồi vợ đẩy từ Thanh Quýt về đây! Phải chi chị Thanh biết đi xe thì đỡ cho chị biết bao nhiêu, thật tội nghiệp. Nghe đâu có người độn rơm vào vỏ xe chạy tạm cũng OK!
Vậy là cái xe nằm liệt.
Bạn học cũ Nguyễn Xuân Thống ở trường Nguyễn Duy Hiệu năm xưa, mỗi chiều chở vợ con bằng xe Honda bordeau về nhà cha mẹ vợ, sau nhà tôi. Hắn gợi ý đổi xe Suzuki lấy chiếc xe đạp sườn dura có tăng-đơ, tôi đồng ý liền không một giây suy nghĩ.
Ai cũng chúc mừng tôi có xe đạp... xịn.
Đi lại được mấy ngày. Sáng dậy sớm, tôi chuẩn bị đi làm nhưng cánh cửa phên tre ai đã mở sẳn rồi, chiếc xe đạp tôi đã khóa vào chân tủ thờ không cánh mà bay, đã vậy bộ áo quần "bảnh" nhất tôi thường mặc đi làm cũng đi theo thằng ăn trộm...
Trời mùa Đông mưa phùn gió bấc không có áo đủ ấm che thân, bốn anh em lầm lũi lội ruộng, những gò mả nhấp nhô theo con nước lớn, nhìn làn nước trong veo tràn bờ ruộng cao chạy xuống ruộng thấp như dòng thác bạc mang theo những con cá lia thia óng ánh nhiều màu sặc sỡ.
Anh Khóa chỉ tay vào hố bom nói bâng quơ:
- Cái chuông đồng chùa Hạ Nông giấu chỗ ni. Sau khi hòa bình bà con khiêng về Miếu Bà...
Tôi nhìn về Nga Tiền, nơi ông nội tôi - Thầy Kiều, từ Nga Hậu - Bàu Lát về lập nghiệp và dạy chữ Nho bên chùa Hạ Nông (Hoằng Pháp - Được xây dựng từ thế kỷ XIX) giữa ba cây đa (da) to thế chân vạc, có lẽ tuổi đời xấp xỉ hơn trăm năm, đã bị san thành bình địa vào những năm chiến tranh khốc liệt nhất ở quê tôi (1960s). Căn nhà của cha mẹ tôi cũng cùng chung số phận, chỉ còn lại khung bê tông trơ gan cùng mưa nắng.
Nhìn về hướng Gò Bướm, mộ cụ Trần Quý Cáp nằm lạnh lẽo, chìm khuất dưới đám lau lách xanh rì cùng với bao người đã quá vãng ở quê tôi.
(còn nữa)
Nguyễn Châu

TÔI LÀ TÔI


Tôi lạc mất căn cước nên không thể nào chứng minh được tôi là ai, dù phân bua với mọi nơi tôi con ông nọ cháu bà kia nhưng mọi người không tin đó là sự thật. Tôi có tên trong hộ khẩu nhưng không có căn cước nên không có tôi dưới mắt công quyền. Tôi ngẩn ngơ suốt ngày, lục tìm trong trí nhớ. Nhà thổ tôi không năng đi, cơ quan công quyền không có việc gì phải đến, đi máy bay tôi sợ nó bay lên trời, dù biết lão già hom hem như tôi không ai hỏi đến nhưng tôi rất cần đến nó - Vậy nó ở đâu?
Lão Tam có kinh nghiệm trong nghề điều tra, gợi ý: "Ông từ từ nhớ lại, ông để nó chỗ nào, lâu nay ông thường dùng nó vào việc gì? Có đi với cô nào vào nhà nghỉ, khách sạn... hay có khi túng tiền cầm cố? Ông có thường mua đồ trả góp không? Theo ý bạn già của tôi sính ngoại ngữ áp dụng 4W: What - Who - Where - When... Theo phương pháp này, tôi lần mò trong trí lúc nhớ lúc quên. Hằng tháng rằm hay mồng một tôi có đi chùa, có khi tạt vào nhà sách đọc ké, thỉnh thoảng đi viếng tang ma, cafe hay trà dư tửu hậu với bạn bè nhưng đâu cần dùng đến “nó”.
Con cháu thấy tôi thẩn thờ, lo tôi bị trầm cảm, xúm nhau đi tìm. Xới tung chỗ tôi nằm không tìm ra căn cước mà tìm ra tập bản thảo tôi cố giấu đi. Cái nghiệp văn chương ghê gớm lắm, chỉ vì con chữ ở tù chớ chẳng chơi, dù đôi lúc tôi viết chỉ để giải toả ẩn ức hay phiêu du của tâm hồn, nhưng nỗi niềm tôi biết đâu lại bay vù đụng chạm đến ông Chúa, ông Phật hay lão Tam mà biết có khi suy diễn cho tôi là phản động không chừng.
Lấy gì để chứng minh tôi? Niềm khắc khoải trong tôi như chim cuốc kêu sương, nhớ về cố quận. Ngày nào “nó” ở bên tôi như hình với bóng nay lạc mất rồi, lòng dạ nào không ngẩn không ngơ? Nếu tìm lại được “nó” tôi sẽ cố tình đến nơi công quyền lớn tiếng nghênh ngang hoặc vung tay hò hét cho thiên hạ biết: Tôi là Tôi.
Nguyễn Châu

Trích truyện ký NỖI NIỀM

 Những Người Muôn Năm Cũ...

Năm 1970, tôi vào Quảng Ngãi thăm cậu: Lê Văn Nghĩa (Nhà thơ Lê Việt Nguyên - Tô Yên). Những ngày ở nhà cậu, nhiệm vụ của tôi là gắp đá, pha Soda, rót rượu và khoanh tay hầu chờ các “cậu”: Chu Trầm Nguyên Minh, Hoạ sĩ Nghiêu Đề, Luân Hoán (Lê Ngọc Châu), Phan Nhự Thức, Thầy Vương Thanh, Trần Thanh Ngọc (nhà thơ Triều Giang), Hà Nguyên Thạch… sai bảo. Tôi thương kính cậu tôi nên ngưỡng mộ luôn bạn cậu. Cậu Nghĩa hơn tôi bảy tuổi nhưng các “cậu” – đối với tôi, là những vì sao cao ngất tài hoa. Gần tám năm sau, tôi gặp lại Thầy Vương Thanh, kể từ ngày thầy giã từ trường trung học bán công Nguyễn Duy Hiệu, Điện Bàn và từ ấy đến nay tôi không còn gặp lại.
Cậu Nghĩa là con út trong nhà, một trong mười hai người con của ngoại tôi. Mấy đứa cháu không ngủ trưa, không mang guốc mộc, đi học về sách vở lem mực, chữ viết cẩu thả… chết với cậu liền! Từ năm đầu trung học, cậu mua sách về cho tôi đọc: “Những người khốn khổ” của Victor Hugo, Tâm hồn cao thượng (Cuore) của nhà văn người Ý Edmondo De Amicis do Hà Mai Anh dịch, chuyện ngắn của Gogol, của Guy de Maupassant… đọc xong phải kể lại cho cậu nghe.
Thưở ấy, tôi cũng tập tểnh làm thơ. Trước ngày tôi thi tú tài, mợ Đặng Thị Huệ - vợ cậu Nghĩa, người con gái Bình Dương, đối với tôi là mẫu người phụ nữ vẹn toàn, tặng tôi hai tập thơ của Nguyên Sa và “Xuân như ý” của Hàn Mặc Tử, nay mợ cũng đã mất rồi.
Tôi mãi đi tìm những gì có liên quan đến cậu, mãi hoài niệm về cậu vì cậu đã mất tích ở rừng lá thấp Quế Sơn trong một cuộc giao tranh, không hình bóng, cậu đã phiêu linh. Một dịp tình cờ năm 2015, tôi may mắn gặp anh Trần Thanh Ngọc – Nhà thơ Triều Giang. Anh đã cho tôi một số thông tin, hình ảnh và biết rất rõ về cậu Nghĩa tôi trong những ngày ở Quảng Ngãi…
Trường Trung học Phan Chu Trinh và Sao Mai Đà Nẵng đã ghi đậm dấu ấn trong tôi. Nhà ngoại tôi ở kiệt 1 Phan Chu Trinh, gần ngả ba Trưng Nữ Vương, đến trường chỉ một con đường.
.........
"...mãi mê làm bích báo tại nhà bạn Tô Yên,
Lam Hồ ghé nói nhỏ:
khách quí đến… phát tiền"
(Luân Hoán)
“…Sau gần nửa thế kỷ, bằng ký ức, tôi ghi lại những người góp một chút gì cho 17 số Trước Mặt trong một thời gian ngắn ngủi từ năm 1968 đến 1969:
Phan Nhự Thức chủ biên chịu trách nhiệm tổng quát kể cả phép tắc và tài chính
Dịch: Nam Lai, Nguyễn Nguyên Phương.
Văn: Vương Thanh, Lê Văn Nghĩa, Trần Cao Bằng.
Biên khảo: Phạm Trung Việt, Đào Đức Nhuận.
Thơ: Minh Đường, Vũ Hồ, Trần Thuật Ngữ, Lê Vinh Ninh, Trần Anh Lan, Hà Nguyên Thạch, Luân Hoán, Lâm Anh, Xuân Thao, Lê Văn Trung, Hoàng Ngọc Châu, Đynh Hoàng Sa, Triệu Duy Gia.
Họa: Nghiêu Đề, Phạm Cung, Hoàng Trọng Bân.…(1)
“Thời ấy Huế có nhiều người sinh hoạt văn học nghệ thuật, đang trên đường lập danh. Tên tuổi những người đã vượt đèo Hải Vân vào đến Đà Nẵng của chúng tôi có Ngô Kha, Trịnh Công Sơn, Đinh Cường, Lữ Quỳnh, Trần Quang Long... nhiều nữa. Riêng Đinh Cường, anh đã tham dự một cuộc triển lãm chung, trong đó có Hoàng Trọng Bân, Nguyên Hạo của Đà Nẵng. Phòng tranh này tôi được hai bạn Lam Hồ và Tô Yên Lê Văn Nghĩa cho biết” (2)
“….hiện diện tại Quảng Ngãi thời bấy gìờ, ngoài Đynh Hoàng Sa, Hà Nguyên Thạch, còn có Tô Yên - Lê Văn Nghĩa, Hoạ sĩ Nghiêu Đề, Huỳnh Bá Dũng, Nguyễn Văn Phượng (anh ruột Hà Nguyên Thạch),Trần Hữu Lân, Nguyễn Đình Trí, Trần Mỹ Lộc, Nguyễn Văn Pháp, nhà văn Vương Thanh, Trần Hữu Huy, Châu Văn Tùng. Và dĩ nhiên còn nhiều người khác tôi không được quen biết…. “(3)
“ …. Sau những câu chuyện gẫu, thường là những màn bàn bạc thơ, văn. Đa số anh em ở đây đều là những văn thi sĩ.: Nguyễn Văn Minh (bút hiệu Mê Kông, Phan Nhự Thức), Nguyễn Văn Đồng (bút hiệu Hà Nguyên Thạch), Trần Hữu Huy (bút hiệu Vương Thanh), Lê Ngọc Châu (bút hiệu Luân Hoán), giáo sư Đinh Văn Quý (bút hiệu Đynh Hoàng Sa), Lê Văn Nghĩa (bút hiệu Lê Việt Nguyên, Tô Yên), Nguyễn Cao Can, Trần Anh Lan, Nghiêu Đề, Phạm Cung, Khắc Minh, Minh Đường, Vũ Hồ, ….Họ cũng ra được một vài tạp chí văn học và đã phát hành một số tác phẩm thơ văn.
Sau những lúc bàn bạc thơ văn ra, thường chúng tôi rủ nhau qua quán cà phê Dung. Cô chủ quán có mái tóc thề óng ánh, mượt mà và giọng nói rất Huế. Quán hình như chỉ quy gồm anh em văn nghệ sĩ và những người yêu thích thơ văn. Sau này anh chị Lê văn Nghĩa có bỏ tiền ra xây một câu lạc bộ (không tên), ngay sau khu vườn niệm Phật đài của ông bà Lệ Ảnh. Anh chị Nghĩa đã rất rộng lòng và hy sinh cho anh chị em nghệ sĩ và thân hữu khá nhiều. Nghĩa đã hy sinh trong một trận kịch chiến tại vùng rừng núi Quế Sơn. Tại nhà Nghĩa, thường có những cuộc đàm đạo thơ văn và những đêm bình thơ, ngâm thơ…”(4)
Hơn năm mươi năm sau, tôi vẫn không biết cậu tôi đã bay về chốn nào, kể từ ngày mất tích tại Quế Sơn, Quảng Nam. Lật từng trang Tập san văn học nghệ thuật Quán Văn (QV) tưởng chừng như:“Đập cổ kính ra tìm lấy bóng”!
Từ số 1, hình ảnh Đinh Cường hiện ra lung linh kỳ ảo với tranh bìa. Đến QV số 7, lại gặp “cậu” Chu Trầm Nguyên Minh với “Lời tình buồn” (*), tôi đã hát ngây ngô từ độ biết yêu:
Anh đi rồi còn ai vuốt tóc
Lời tình thơm sách vở học trò
Đêm xuống rồi em buồn không hở?
Trời sa mù tầm tay với âu lo
Anh đi rồi còn ai đưa đón
Áo em bay khuất mắt thiên đường
Tuổi hai mươi trong vòng tay chờ đợi
Ngôn ngữ nào anh nói hết yêu thương
Anh đi rồi còn ai chiêm ngưỡng
Cổ em cao tay mười ngón thiên thần
Tóc em xanh trùng dương sóng lượn
Anh chợt buồn đứng ngóng bâng khuâng
Anh đi rồi còn ai tình tự
Đêm đầy trời ru tiếng nhớ bơ vơ
Phút yêu em dấu lần quá khứ
Nụ hôn đầu rụng xuống hư vô
C.T.N.M - 1967
(*) Bài thơ được nhạc sĩ Vũ Thành An phổ thành ca khúc cùng tên.
Nhưng đã muộn mất rồi – khi tôi viết những giòng này, Chu Trầm Nguyên Minh đã đi xa (19.2.2014).
Dù tôi đã tìm bóng dáng cậu Nghĩa tôi và những “người muôn năm cũ” qua nhiều nguồn. Từ những văn, thơ của các bạn cậu, trên các trang web khắp nơi, nhưng chỉ còn lại mỗi “cái tên” và một vài chi tiết liên hệ lúc sinh thời!
Hỡi người muôn năm cũ
Hồn ở đâu bây giờ ?
Nguyễn Châu
Tham khảo:
Nguồn:
(4)Hoàng Ngọc Lễ - Nguồn: http://www.angelfire.com
Ảnh 1: Cố Th/tá Lê Văn Nghĩa (Nhà thơ Tô Yên - Lê Việt Nguyên)
Ảnh 2: Lê Văn Nghĩa và phu nhân Đặng Thị Huệ cùng anh chị Trần Thanh Ngọc (nhà thơ Triều Giang)

ÂN TÌNH


(viết tiếp truyện cũ)
Thân tặng các bạn "già" của tôi.
Hai mẹ con bàn mưu tính kế giết Ri-Ta. Trấn nước, thuốc chuột, tẩm xăng đốt hay bỏ đói…? Đứa con gái gằn giọng:
- Bà để đó, tui có kinh nghiệm việc này!
Hơn tháng trước, Ri-Ta bị xe cán nát một chân, toạc mông lòi xương trắng hếu. Lão rên rẩm lết quanh nhà, ruồi nhặng bu quanh, nhiễm trùng, vết thương ngày càng lở loét.
Ri-Ta đã già, mắt mờ nên gặp tai ương. Cả đời lão trung thành hiếm có, dậy sớm thức khuya, đêm vật vờ canh chừng giấc ngủ cho đứa con gái, khi nó còn bé xíu. Phải như hồi trung niên, dễ gì ai qua mặt lão. Mắt Ri-Ta tinh anh, tai thính, mũi lão đánh hơi siêu hạng. Thoắt cái, lão chồm lên sẳn sàng ngoạm vào cổ kẻ nào dám trêu chọc cô chủ nhỏ. Vậy mà…
Ri-Ta - giống chó berger Đức chính cống. Thời hoa niên lão đẹp mê hồn, ngực nở eo thon vươn vai vạm vỡ cất tiếng sủa kiêu hùng, chim muông giật mình bay tá lả nhưng thời gian đã mài mòn âm sắc, gọi Ri-Ta lão nghễnh ngãng, có khi không nghe, bị đòn oan. Lão chỉ còn nghe được tiếng “Ta”. Nếu còn đi được, lão sẽ hành xử như con voi già rời bầy đàn tìm vào rừng sâu hoang vu, xa xôi huyền bí và an nhiên chờ đợi giờ khắc lìa khỏi thế gian này!
Ri-Ta đôi khi nhớ lại thời hoàng kim xưa, thời trẻ trung kiêu dũng. Lũ chó má, cầy, thỏ tép riu, thoáng nhìn thấy lão đã chạy cong đuôi. Lão khoan thai vươn mình, bước chân êm như nhung đỉnh đạt oai hùng, khi lão cất tiếng sủa âm vang giữa bốn bề vườn xanh cây lá, bọn cáo chồn khiếp sợ như "thần tử thấy long nhan".
Chính Ri-Ta đã xả thân giữ yên bình cho giang sơn nhà chủ, thế mà mẹ con nhà nó bàn mưu tính kế hại lão. Nhờ linh tính, đã khiến cho đôi mắt đã lòa của Ri-Ta bừng sáng, lão run rẩy đi dần ra cổng, ánh trăng hạ tuần vẫn còn lửng lơ trên nền trời mờ xám của đêm về sáng.
Tiếng cú rúc trong sương, lão nghe như lời tiễn biệt mơ hồ của bọn bò, dê, gà đã một thời sớm hôm cùng lão canh giữ cơ ngơi này.
Không một ai trong đoàn bộ hành của loài người để tâm đến thân hình tiều tụy, ốm o của lão. Con đường mòn hun hút đưa lão đến bên gốc sung già, những trái chín đã rụng đầy dưới gốc. Lão nhấm nháp mùi vị lạ lùng, những trái thâm đen đã lên men nhưng lão cảm thấy dễ chịu hơn, không phải thấp thỏm lo âu và chết vì đói.
Lão hồi tưởng những ngày được chăm sóc và cưng chìu. Ôi! Những lần đi săn cùng ông chủ, sãi bước như gió cuốn song song cùng con ngưa ô, tiếng sủa hòa cùng tiếng hí khiến chim muông giật mình khiếp hãi bay giạt tứ phương. Lũ thỏ rừng, heo, nai tan tác náo động cả khu rừng âm u. Lão đã từng xé nát yết hầu con heo rừng hung bạo, dâng tận tay chủ những con cầy hương ngu ngốc dám nhe răng chống lại lão.
Mặt trời lên, tia nắng xuyên qua cành lá mang hơi ấm và rọi sáng chỗ nằm của Ri-Ta. Lão nhắm mắt tận hưởng luồng sinh khí bao dung của đất trời, lão cảm thấy khoan khoái và yên bình khi thả hồn chìm dần vào cõi mộng thiên thu.
Nguyễn Châu

XÓM GÒ

- Ông đừng nói với ai, ở đây tai vách mạch rừng...
Lão Tứ thì thầm với ông Du, lấm lét nhìn quanh.
Từ ngày lão uốn cong cây tre làm be xuồng, mụ Sự ton hót chính quyền: "Lão Tứ âm mưu làm cung tên giết người!". Hỏi giết ai, mụ không nói.
Không hiểu sao mụ Sự căm ghét lão Tứ thậm tệ, nhất là hàm râu cá trê cứ vễnh ra đằng trước như khiêu khích. Nhà liền vách, mụ hay nhìn trộm, khi thì thấy lão mặc độc cái quần đùi, bộ ngực xương xẩu nhưng rắn chắc. Có lúc lão ngủ quên, trong mơ không biết thấy gì mà giữa háng lão như bung dù, thẳng tưng. Mụ Sự ngó trân trân, rạo rực, kéo toạt hàng nút bóp phơi hai vú no tròn, cương cứng.
Mụ đằng hắng, thở hổn hển đánh động, lão Tứ vẫn ngáy phì phò vô tư lự.
Vậy mà lão tương tư con Nụ - con gái bà Điển. Phải nó đẹp gì cho cam, đằng này lùn tịt, chỉ được cái gái tơ, màu da bánh mật rắn chắc, siêng năng ham làm.
Mụ Sự nguýt háy đủ điều, con nhỏ cứ trơ trơ. Thỉnh thoảng Nụ còn đi chợ giùm lão Tứ, nghe lão dặn dò nhờ mua đuôi heo hầm bắp chuối chưa ra ràng để bổ thận bổ tì mà mụ ứa gan. Con Nụ rắn mắt vừa nói to vừa ra vẻ nũng nịu vừa nhìn mụ. Như ngoáy dao vào lòng mụ, trêu ngươi.
Mụ Sự gái già, chưa qua một lần trai trên gái dưới. Ngày xưa mụ là dân công hỏa tuyến, sức vóc hơn người nhưng cái mồm phun ra lời không kịp kéo da non, thói lanh chanh hại mụ, đúng là “thần khẩu hại xác phàm”.
Mụ già hàm nhưng thua con Nụ. Hắn ăn nói nhỏ nhẹ, lời nào ra lời đó còn hơn vung tay vỗ mông bèm bẹp kèm theo lời xỉa xói vô học của mụ.
Xóm Gò nằm dưới chân đồi, gần nghĩa địa làng Nghĩa Đô, cách thị trấn không xa. Đếm tới đếm lui khoảng hơn hai chục nóc nhà nhưng không dưới mười bà goá hay đơn thân, dù xóm biệt lập lại có ban bệ hẳn hoi.
Chị hai Nhon có chồng đi lính phía bên kia chết trận, nhưng có máu văn nghệ kèm theo chút chữ nghĩa làm "trợ lý" cho mụ Sự. Mụ là chủ tịch hội phụ nữ. Triển khai nghị quyết, công tác không có chị hai Nhon, mụ Sự chịu chết. Mụ chỉ ký quọt quẹt tên Sự như con giun. Chị hai Nhon cầm tay mụ tập cả tháng nhưng nhớ trước quên sau. Đôi khi mụ ký chữ S lộn ngược, mụ ngó đi ngó lại rồi cười lỏn lẻn.
Trai tráng trong làng vô Nam gần hết để kiếm việc làm. Người chết không có ai khiêng đi chôn. Xóm Gò tưng bừng rộn rã cười vui trong những ngày Tết hay thanh minh. Đàn ông còn lại chỉ vài ba mống què quặt.
Chú Ba, chồng chị Đủ cụt hai giò, đi bán vé số dưới thị trấn. Ông Du không vợ nhưng lù đù, kèm theo chứng thần kinh khi trái gió trở trời. Chỉ có lão Tứ ngon lành, tuổi chưa đến sáu mươi, goá vợ hơn bảy năm nay nhưng không chịu đi thêm bước nữa. Cái khoẻ và cường tráng của lão nông gân guốc lại là lực hấp dẫn làm điêu đứng mấy bà.
Lão Tứ thích múa gậy vườn hoang lúc nào không được nên chiến tranh ngầm giữa mấy bà thường xảy ra. Có người liếc xéo lão, chì chiết đồ ác độc mỡ treo mèo không vớ tới.
Hiện tượng bằng mặt không bằng lòng trong xóm không biết xảy ra tự lúc nào. Ông Du cười hề hề:
- Tui biết hết, tui biết hết!
Hai ông khề khà bên chai rượu đế với con cá lóc nướng trui. Mắt ông Du hấp háy nhìn lom lom lão Tứ:
- Ông có bí quyết gì mà bà nào cũng khoái ông?
- Chuyện âm dương phải có nam có nữ mới có càn khôn vũ trụ. Con sâu cái kiến, cỏ cây cũng biết làm gì để sinh sôi nảy nở. Ông dòm hai con chó mắc lẹo, gà trống vỗ cánh phành phạch sau khi đạp mái. Bầy vịt con ríu rít trong sân nhà ông, ở đâu mà có? Chẳng qua đàn bà con gái ngại ngùng không bày tỏ đó thôi chớ lòng vả cũng như lòng sung.
Ông Du ngớ người:
- Tui xấu hổ chết thôi, ai dám! Mụ Sự chửi tui té tát: "Đồ già dịch".
Lão Tứ rung đùi:
- Con gà mái không biết nói, khi con gà trống xệ cánh, mắt liếc te vòng quanh, gà mái nằm xuống liền. Ông chưa te mà nhảy lên, có ngày chết không kịp ngáp!
Nguyễn Châu

VIỄN XỨ


Hỡi những cánh chim lạc loài viễn xứ
Thiên di về đâu có mỏi cánh đường bay
Có mơ hoang dáng Kiều trong nét lạ
Hay ngậm ngùi rơi lệ giữa cơn say
Sóng vẫn nhấp nhô và người vẫn hải hồ lang bạt
Chàng thuỷ thủ già thách đố cả trùng dương
Đêm Cali nhớ giọt nắng Sài Gòn
Chiều Texas mơ về con phố nhỏ
Ta vẫn nhớ sóng rì rào từ Nha Trang vẫy gọi
Đêm ra khơi rực sáng cả mùa thu
Em xoả tóc ngàn năm nghe sóng vỗ
Người kiêu hùng mãi rong ruổi phiêu du
Ta ngẩn ngơ nhìn tóc em chớm dòng suối bạc
Đôi mắt nào hằn dấu vết chân chim
Hải hành khơi xa mây về xứ lạ
Ta vẫn say mê vọng cõi mong tìm
Người thuỷ thủ già đã hằn "tri thiên mệnh"
Nếp da khô dan díu thuở đào hoa
Ta đã lỡ bước tango trùng nhịp
Người mơ màng "Dạ cổ hoài lang" xa...
Phan Nguyễn Châu Uyên

TRĂNG TREO MÁI LÁ

Tôi đi loanh quanh vì không biết đường, vác trên vai bao tải nặng trịch. Bỗng nhiên cô gái từ trong nhà bước ra chận đường: - Anh tìm ai mà...