Thứ Bảy, 30 tháng 12, 2017

VĂN HOÁ ĐƯƠNG ĐẠI

     “Ông mang hia bảy dặm cũng không theo kịp mấy lão ấy! Ấy, tôi nói nghĩa đen còn nghĩa bóng thì… xin lỗi!”.
     Hết thời chinh chiến, ông chuyển qua ba ngành bảy nghề. Gần cuối đời ông làm to: Viện trưởng viện:“Khai thác tiềm năng văn hoá đương đại”. Trong định nghĩa rộng và phổ thông, đương đại (contemporary) là thời hiện tại, đương thời. Nhưng văn hoá đương thời có gì cho viện ông khai thác?
     “Ông ra đường mà xem, chúng là đệ nhất đẳng cấp, tầng thượng lưu cao tít. Chúng hơn gì ông chứ? Văn hoá mù mờ, chữ nghĩa không đầy lá mít, bản sắc dân tộc lai căng. Ông thì ki bo chắt bóp, nghiên nghiên cứu cứu, liêm chính cho cố vào, thằng ranh con không gọi ông Khinh cũng gọi thằng Khinh.” Mụ dấm dẳng buông lời, như chửi bố ông Khinh. Hay cái tên vận vào người?
      Trong suốt chiều dài lịch sử, văn hóa chính là nguồn nội lực của dân tộc, đưa dân tộc vươn tới những giá trị mới của văn hóa đương đại cùng với việc bảo vệ bản sắc dân tộc. Đáng giận khi chúng đang cầm cân nảy mực, mà chúng chẳng hiểu gì về văn hoá, chúng đang ra sức huỷ hoại không thương tiếc. Ông Khinh tự nhủ.
     Ông thầm cám ơn đấng sinh thành đã đặt tên ông phù hợp với thời hiện đại. Ông Khinh, lão Khinh… Tóm lại “ông khinh tất chúng mầy!”. Khi gọi tên Khinh, ông im lặng, lực phản hồi sẽ đưa âm thanh rót chát chúa vào lỗ tai của lũ ngu muội. Ông cười đắc chí: “Ông chửi chúng mầy đấy! Ông khinh chúng mầy đấy!”.
     Người ta lập ra viện Khai thác tiềm năng văn hoá đương đại” cốt để tinh giản bộ máy cồng kềnh, đáng ngạc nhiên toàn một lũ hư danh, nhưng bằng cấp đầy mình. Không như các viện sĩ hàn lâm cao quý, được bầu. Các viện sĩ của  ông không cần mặc áo đuôi tôm (habit vert), nghiên cứu tự do, bất kỳ nơi nào có chữ “văn hoá”. Thời đương đại, lồ lộ chữ “văn hoá” đầy đường.
     Ông nhớ thời thập niên 80, ông xử một vụ ly hôn. Người đàn bà mắt trợn trừng, xỉa xói, tay chỉ thẳng vào mặt người đàn ông:”Ổng lừa gạt tôi. Đồ điêu ngoa xảo trá!”. Người đàn bà kể lể: Ngày ấy cách đây một năm, tôi bán thuốc lá lề đường, ông ấy bước xuống từ chiếc xe U-oát, mua thuốc xong không nhận tiền dư trả lại. Tôi hỏi làm nghề gì? Ông bảo làm tài xế. Sau đấy, tôi bằng lòng lấy ông. Nhưng sau khi thành hôn, tôi phát hiện ra ông ấy không phải là lái xe, mà là… tiến sĩ.
     Thời trước, Nho giáo tạo nên nhân cách con người, khoa học Âu Tây tạo nên tri thức, nên nghĩ về người hơn nghĩ về mình.
     Cơ quan đã chán, bước chân về nhà như đi tù. Trong tù còn có chút tự do cho ý nghĩ hơn. Không sợ bị tù nữa, vì không có bút để viết ra những gì mình nghĩ. Ông im lặng, sự im lặng là phản kháng, là khinh. “Văn hoá đương đại” đang cổ suý cho chủ nghĩa cá nhân, quên đi lợi ích cộng đồng. Điển hình ở viện ông, có thằng cha nào biết đến thằng cha nào, nghênh ngang tự đắc, mặt hất lên trời.


“Dẹp mẹ nó Viện của ông, toàn một lũ ngồi chơi xơi nước, ăn hại đái nát, ngồi nhà mát ăn bát vàng. Tôi không còn kiên nhẫn ngồi chờ ông đổi đời!” Mụ cong cớn, xỉ vả. Mụ không gọi tên ông, nên không lực phản hồi, ông im lặng. Sắp hết đời người, đành phải chia tay. Ông chỉ giữ lại tủ sách thánh hiền cho riêng mình, để ôn cố tri tân. 

SAO BĂNG

     “Ông nhìn xem, như đã vào đông!”. Khung trời một màu trắng đục, cây lá ủ dột im ắng, không gian thật tỉnh lặng. Tiếng gà gáy trong vườn cây kiểng truớc nhà, gợi bà nhớ xa xăm mơ hồ.
- Bà có gì buồn?. “Ông không thấy con gái mình đang lo lắng điều gì hay sao?”
     Ông nhìn ra cây hoàng lan, mùi hương lan toả. Những sợi như tơ trời màu bạc, ẩn hiện trong mái tóc bà. Mái tóc ấy, một thời ông mê đắm. Ông yêu bà từ mái tóc đến nết người, dù bà không đẹp. Bù lại ngày tháng qua đi, ông càng thấy đức tính nơi bà lộ dần qua cung cách đối nhân xử thế. Sự nể trọng bà trong ông âm thầm, “đàn ông cái nhà, đàn bà cái cửa”. Con cái thuận hoà, em ngã chị nâng.     
     Ngược lại, bà đối với ông “tương kính như tân”, chăm sóc ông từng li từng tí, thậm chí Hà - cô con gái lớn hay đùa: Ba như em bé!
     Ông tự hào và yên lòng với sự lo toan của bà, chính bà tề gia để có ngày ông lo trị quốc. Nói vui vậy thôi chứ ông trị cái gì, khi thời thế thay ngôi đổi chủ, số phận ông cũng lên bờ xuống ruộng. Ông thấm bài “thương vợ” của Tú Xương, ông ngâm nga góp vui với bạn bè khi trà dư tửu hậu, hàm ý nói về bà:

“Quanh năm buôn bán ở mom sông
Nuôi đủ năm con với một chồng
Lặn lội thân cò khi quãng vắng
Eo sèo mặt nước buổi đò đông”
……..
     Hà xong tiết dạy, Hưng đón chị trên hành lang. Linh cảm có điều bất thường, hai chân Hà run lên. Hưng mỉm cười:”Em thích đón chị về, thế thôi!”. Hà choàng vai em,
thì thầm:”Chị thấy mẹ có gì không vui?”. Nhà này cũng lạ, mẹ bảo thấy chị có gì buồn, chị bảo mẹ không vui!
     Ngang chợ, Hà mua mấy ký cam, mùa này cam sành Cái Bè mọng nước. Mẹ cần kiệm, “ăn mắm mút dòi”, dành cái ngon cho ba và chị em mình.
     Căn nhà vắng, cả hai cùng gọi mẹ. Trên bàn ăn đã sẳn hai ly cam vắt, mẹ lui cui trong bếp, nồi canh chua đang sôi. Cam mẹ mua rồi, mua thêm làm gì phí tiền. Hưng ôm lưng mẹ, Hà cười vang: “Em bé của mẹ đâu rồi?”. Thật ra, Hà có nỗi buồn nẫu ruột, không muốn lộ ra ngoài để mọi người lo lắng, thế thôi.
     Tình yêu của Hà đơn phương, vướng màu nghiệt ngã. Người ấy như thanh nam châm, cuốn hút lấy Hà. Hà gục đầu vai mẹ thổn thức, bà vuốt tóc con xót xa nhưng không hỏi một lời. Sự tin cậy vào tấm lòng của mẹ là niềm an ủi, chia sẻ lớn lao với Hà. Ngày xưa bà cũng yêu ông như thế, nhưng may duyên nợ trọn tình, nên chồng nên vợ.
     Phần ông, ông để hết tâm trí vào chuyện văn chương. Ông đã trị quốc, bình thiên hạ bằng ngòi bút, cả thế gian quay cuồng theo ngẫu hứng và sắp đặt nơi ông. Nhưng ông không thể cứu rỗi linh hồn con gái yêu dấu của ông.
     Hưng ít nói nhưng thâm trầm, luôn quan tâm đến mọi người và hiểu cha. Nụ cười là thủ tục đầu tiên, khi hai cha con gặp nhau. Hưng trêu:”Em bé của mẹ uống thuốc chưa? Thuốc chị Hà mua đó!”. Thật ra, là của Hưng. “Chị Hà” có uy lực tuyệt đối với ông, chỉ thua “chị Mẹ”.


     Ngày Hưng được học bổng du học Hoa Kỳ, bà vừa mừng vừa lo, vừa buồn. Ông ôm bà vào lòng, lau dòng nước mắt, ông đùa trả đũa:”Em bé của ba vui lên chứ! Nam nhi phải tung hoành,“Chí làm trai nam bắc đông tây. Cho phỉ sức vẫy vùng trong bốn bể”.(NCT)
     Hưng chưa tốt nghiệp, bà mất. Ông như rơi từ chín tầng mây, ông ngập chìm trong mộng du. Tô mì ăn sáng của Hà không có múi chanh, lát ớt xắt rất khéo của bà. Không có bóng dáng, bàn tay của “chị Mẹ”, đời ông vô vị.

     Ông ngồi thừ trước trang giấy hằng đêm, không viết được gì. Hình ảnh bà quá lớn, tình yêu thương của bà với gia đình bé nhỏ như đại dương mênh mông. Gái có công, chồng nào nỡ phụ hở bà? Từng giọt nước mắt của ông rơi lên trang giấy, lan rộng thấm đẩm thành những vì sao u buồn, bầu trời sáng trắng một sao băng. 

THỨ THIỆT

     Vợ chồng chị Định từ tỉnh Q. vào thành phố thuê mặt bằng bán bún. Tấm ván ép viết nguệch ngoạc: “Bún bò giò heo… thứ thiệt”. Khách tò mò ăn thử, hỏi sao lại thiệt? Chị nói: Thịt ở quê gởi xe đò vô, kể cả trái chanh, trái ớt, chỉ có bún phải lấy ở đây, lò bún của bà con, gạo cũng gởi từ quê vô. Quê chị cái gì cũng thiệt, món tương ớt ngon hết chỗ nói.
     Thời buổi này gian dối đủ thứ, chỉ biết lợi mình còn mặc kệ thiên hạ. Giọng miền trung của chị thiệt thà, ai cũng tin.
     Quán xập xệ nhưng ngày càng đông khách. Chị bán tô bún hai, ba giá. Ai mua mười ngàn cũng bán, tối đa hai chục cũng xong. Ông Ngọt xe ba gác ngày nào cũng tới, Lâm cứ gặp hoài thành quen, hỏi ra đồng hương càng thân càng quý.
     Nhìn cặp mắt ông Ngọt, biết ngay có cảm tình với vợ chồng chị Định dữ lắm. “- Nè Định, thằng Lâm đang học “sinh viên”, cho hắn phụ quán kiếm ít đồng đi học”.
     Lâm phụ trách bưng bê, lau bàn, rửa bát kiêm luôn giữ xe. Sau này, thấy hắn biết tính tiền, chị giao luôn. Anh Định thấy có người, sắm đồ nghề đi làm thợ hồ.
     Từ khi có việc, Lâm gầy đi nhưng vui hẳn lên. Hắn nói mẹ không phải gởi tiền, thỉnh thoảng hắn còn gởi ngược. Hai đứa em đang học cấp ba đoán già đoán non, chắc anh hai làm gia sư hoặc công việc gì ngon cơm lắm.
     Anh Định nhắc vợ:”- Bà thêm chút thịt cho thằng Lâm, tui thấy hắn ốm đi đó!”. Chị háy chồng: “Thân ông không lo, ông đau xuống, chết tui”.
    Xui làm sao mất xe của khách, anh Mại - bạn thợ hồ với anh Định, mặt Lâm tái mét. Ông Ngọt thở dài:”- Lấy tiền đâu mà đền?”. Chị Định quát:”- Mầy làm gì đứng như trời trồng, vô đây!”. Chị thì thầm:”Đừng lo, chuyện đó của anh chị”, tự dưng nước mắt Lâm chảy dài.
     Gần Noel, trời se lạnh. Sương mờ giăng giăng, hàng cây hai bên đường lặng lẽ ủ rũ theo. Lâm nghĩ bâng quơ, tháng này sẽ không nhận tiền lương của anh chị Định…
     Ông Ngọt ba gác đi ngược, thấy Lâm ông kêu như cháy nhà:”- Mầy quay lại, tau nói cái này!”- “Không biết nghe ở đâu, mẹ mầy gởi vô hai triệu nói đền chiếc xe cho chú Mại, dặn là mình làm mình chịu”. Ông Ngọt đếm tiền đưa Lâm ba triệu, nói thêm:”- Phần còn lại của tau”. Lâm chỉ nhận phần mẹ.
     Công viên thành phố thật đẹp, không gian dịu mát gió hiu hiu, có lẽ trời đã lập đông. Cặp tình nhân chầm chậm dìu nhau, đôi mắt chứa chan cả bầu trời hạnh phúc. Chiếc ghế đá trơ trọi mình Lâm, chỉ vì lơ đễnh gây chuyện buồn phiền cho biết bao người. Chiếc lá vàng rơi khẽ trên vai Lâm, ngoài đường tiếng còi xe rộn rã, vun vút. Hai thế giới hay nhiều cảnh đời trái ngược, đang tồn tại trong thành phố bề ngoài hoa lệ và nhiễu nhương này.
     Lâm chuẩn bị đạp xe đi học, anh Định kêu giật ngược, nhìn quanh rồi ghé tai Lâm:”- Chú Mại không bắt đền, chú nói xe đó cũ rồi!”.
     Hai người khách sang trọng xuống xe ô tô vào quán, người đàn bà bỉu môi nhìn quanh. Người đàn ông hách dịch:”- Hai tô đặc biệt, bát đủa trụng nước sôi nhé!”. Nói xong, ông rút cả xấp giấy lau trên bàn chùi đôi giày đã bóng lưỡng, rối vất xuống sàn nhà. Tiếng húp sồn sột của người đàn bà khiến Lâm quay lại, người đàn ông lừ mắt gọi tính tiền. Lâm trả tiền dư, người đàn bà không thèm nhìn Lâm, phẩy tay.


     Anh chị Định coi Lâm như đứa em cật ruột của mình. Ngày Lâm tốt nghiệp bác sĩ y khoa, anh chị và ông Ngọt hãnh diện bên Lâm trong bộ lễ phục ra trường. Lâm cũng tự hào với bộ áo xống quê mùa của anh chị Định và ông Ngọt xe ba gác. Lần đầu tiên trong đời, bốn người hân hoan bước lên xe taxi về quán “Bún bò giò heo… thứ thiệt”.

NIỀM TIN YÊU

     Nàng đẹp, không dám nói thiên kiều bá mị nhưng trong mắt Anh, nàng là giai nhân tuyệt thế. Anh đánh bạo hỏi nàng: “Em dám yêu anh không?” Không ngờ nàng gật đầu cái rụp.
     Nói vậy thôi, ban đầu Anh đánh giá nàng rất thấp. Nhưng từ khi là bạn của nhau, giá trị của nàng tăng dần trong Anh, nó thăng hoa kỳ cục, đến nỗi không lúc nào hình bóng nàng rời khỏi tâm trí. Anh luôn suy nghĩ về nàng, có lần xe ô tô suýt đưa Anh về miền cực lạc.
     Một hôm nàng nói: “Da anh xanh tái!”. Anh không hiểu, hỏi lại:”Sao em nói thế?”. Nàng đáp:”Mai em đưa anh đi khám bệnh”. Anh tự ái:”Em nhầm, chưa bao giờ anh khỏe như bây giờ, em thấy đó mỗi lần…”. Nàng buồn xo, nhìn ánh mắt như có mây giăng.
     Anh cảm thấy hạnh phúc vô cùng. Trên trái đất này ai mong ai nhớ, ai chăm sóc ta, ai lo lắng cho ta, đó là nơi chốn cuối cùng của đời ta.
     Nàng trọng thị, xem Anh như vì tinh tú lạ, ai không muốn mình là đế vương trong cuộc sống hữu hạn này kia chứ, nhất là khi đã trải qua biết bao gông tố trong đời.
     Có vinh quang nào không từ cay đắng, có nghị lực nào không từ sự khổ đau? Nàng than thở sao không bứt vòng cương tỏa. Còn có bao lâu, sao không được sống bên nhau?
     Anh lơ đễnh nghe. Anh bảo nàng chuyển đề tài, quá khứ đã qua rồi, tương lai chưa đến, hiện tại đáng giá ngàn vàng sao không thấy quý. Nàng nhìn Anh, rớm lệ:”Em đớn đau vì nỗi khổ đời anh! Niềm vui anh thường sẻ chia, nhưng u buồn anh đang dấu kín...”.
     Nàng là mẹ đơn thân. Cánh cò cô đơn, dặm trường mưu sinh trong thời thế nhiễu nhương đầy mưu toan, lạm dụng. Đời nghệ sĩ của nàng, mấy ai tin không sa vào bẩy rập?      
     Những đêm khuya dưới ánh trăng tàn, đèn đường hiu hắt, đơn chiếc về vùng ngoại ô xa ngái, không có bóng ma trơi?
     Người đàn ông lớn tuổi si mê nàng, dâng tặng cả gấm hoa  lẫn tấm chân tình. Một ngày, nàng cố tình để lộ trang nhật ký bên món quà được tặng, nàng xin trả lại cho người, vì trái tim nàng không hề thổn thức, nàng không thể yêu thương.
     Sự thuỳ mị, nết na của cô con gái, đã chứng minh cho tấm lòng và bản lĩnh người mẹ. Nàng như con ong thợ, chắt chiu từng giọt mật hoa đời, tạo dựng cho riêng mình mái ấm đơn sơ, nhưng rộn rã tiếng cười.
     Anh nhìn lại mình, mỗi ngày một tàn tạ.Tình đời nhạt phai theo sa cơ lỡ vận. Có lúc Anh muốn giải thoát bằng liều độc dược. Nàng nhìn Anh đăm đăm:”Hãy tự đứng lên nơi mình đã ngã, đến chân núi ắt sẽ có đường!”.  
     Anh không muốn gieo vào lòng nàng nỗi buồn phiền. Nhiều lần Anh muốn xa rời, ẩn mình vào chốn thiền môn. Anh xa lánh hẳn bạn bè, trầm ngâm nhìn áng mây bay, tan dần trên bầu trời xanh màu biển. Hoàng hôn tím thẩm  nhấn chìm Anh trong bóng tối. Niềm tin yêu cuộc sống, chỉ còn le lói như ánh nắng đỏ ối hiếm hoi còn sót lại của vầng dương. Sự chán chường, bạt nhược đang đốt dần mòn sinh lực. Nhưng rồi thần ái tình Eros giương cung bắn mũi tên xuyên nát trái tim Anh.
     Tự nhiên Anh cảm thấy xấu hổ với nàng. Tiếng xe máy vang trên đường vắng, đêm đã vào khuya. Trời đầy sao, chiếc bóng nhỏ nhoi tội nghiệp, ánh đèn rọi sáng chỗ Anh ngồi. Nàng ngạc nhiên khi trông thấy Anh:”Chờ em làm gì?”. Anh sẽ đưa em đi làm. Nàng e ngại:”Đừng anh! Sự xuất hiện của anh sẽ làm em mất fan ủng hộ”. Tiếng hát và nhân dáng của nàng đã khiến biết bao con tim rung động và thổn thức, chỉ vì nàng không mang theo chiếc bóng bên mỉnh. Nàng cứ lửng lơ như lục bình trôi giữa dòng đời, nhưng vững chãi và biết bảo vệ mình như loài ong cần mẫn.
     Anh đã sa lầy và thất bại trong sinh kế, những dự án tưởng chừng sẽ đưa Anh đến đỉnh vinh quang, nhưng phút chốc đã tan tành theo cơn lũ dữ. May thay, Anh không vướng vòng lao lý nhưng đã trắng tay. Anh như rơi từ chín tầng mây, tâm thần lơ ngơ như kẻ mộng du. Anh lại gặp nàng.
     Sự ân cần chăm sóc từ nàng, đối với Anh hình như không có thật. Anh nghi ngờ chính mình và tình yêu của nàng, mọi chuyện cứ như trong mơ và huyễn hoặc.
     Nàng mong tìm được gì từ nơi Anh, Anh như xác ve khô vật vờ trong gió bụi cuộc đời. Những cơn mất ngủ triền miên khiến Anh hốc hác, nụ cười gượng gạo cho vui lòng nàng, nhìn Anh càng tệ hại. Anh lao vào chuyện văn chương, dốc hết tâm sự đời mình trên màn hình laptop, tiếng bàn phím khô khan như đánh thức tiềm năng nào đó trong Anh. Anh như được hồi sinh.
     Nàng vui mừng khi má môi Anh có sắc hồng sinh khí, nàng khuyến khích và ngợi ca Anh như văn tài nhân gian vừa được khám phá. Nhưng tác phẩm đầu tiên không phải chuyện văn chương, mà là đứa bé kháu khỉnh ra đời.



     Anh lao vào công việc, Anh làm bất cứ việc gì có thể kiếm ra tiền. Nàng rạng rỡ, hân hoan nhìn con trai bụ bẩm hé môi cười. Cô chị gái bế bồng, vui đùa cùng bé sau giờ tan lớp. Căn nhà có giàn hoa giấy ở ngoại ô bừng sáng, niềm tin yêu cuộc sống trong Anh như chưa hề mất bao giờ.

NGƯỢC NƯỚC

     Hoàng Dung gốc Huế, cất tiếng hò điệu mái nhì, nghe như than thở:Chiều chiều trước bến Văn Lâu/ Ai ngồi ai câu ai sầu ai thảm/ Ai thương ai cảm ai nhớ ai trông/  Thuyền ai thắp thoáng bên sông/ Đưa câu mái đẩy chạnh lòng nước non… “.(Ưng Bình Thúc Giạ)
     Giai điệu câu hò mái nhì da diết, mềm mại, thiết tha khiến lòng Đoan Bình bâng khuâng, nhớ về miền sông nước quê nhà. Hò mái nhì mà đưa câu mái đẩy. Con thuyền mỏng manh chơi vơi,  khòm lưng chèo ngược nước, như người ngược dòng đời, chạnh lòng tha hương thương non nhớ nước, trong vất vả, gian nan.
    “Phu Văn Lâu (lầu trưng bày văn thư)  ở mặt Nam kinh thành Huế, trước kỳ đài và Ngọ Môn:“Ngọ Môn năm cửa chín lầu/ Kỳ đài ba bậc/ Phu Văn Lâu trước thành”. Thời Minh Mạng, triều đình cho dựng hai tấm bia đá:”Khuynh cái hạ mã”(Nghiêng nón xuống ngựa). Danh sách các khoa danh tiến sĩ được niêm yết tại đây. Phía trước Phu Văn Lâu có tiểu đình kề bên sông Hương gọi là Nghinh Lương Đình dành cho các vua tiêu dao, ngắm cảnh”.


Phu Văn Lâu - Huế

     Miền quê Ba Tri - Bến Tre của Đoan Bình cũng nước ròng nước lớn. Cuộc đời cô thăng trầm theo vận nước đảo điên. Cha cô – cụ Đề Giang, gom góp của cải ủng hộ và hưởng ứng  phong trào Đông Du của cụ Phan Bội Châu, thuở nhỏ Đoan Bình theo học chữ nho, bốc thuốc với bà Sương Nguyệt Anh (Nguyễn Thị Khuê – con gái cụ Đồ Chiểu), lúc này Sương Nguyệt Anh đã mù giống cha mình. Đoan Bình được cha dạy võ từ sớm, cô lên Saigon tìm nơi dựng nghiệp, đã gần bốn mươi nhưng vẫn chưa chồng. Thập niên 50 nhiều biến động, cô vừa học vừa làm. Xã hội đã phân hoá như Cửu Long giang đổ ra chín cửa, lòng cô chơi vơi giữa dòng đời.
     Thời thế nhiễu nhương, các phong trào chống Pháp  ồ ạt nổi lên. Dương Văn Dương, thủ lĩnh các nhóm giang hồ Nam Bộ thống nhất lực lượng ở Tân Quy, Tân Thuận, Nhà Bè, Thủ Thiêm và lực lượng Bình Xuyên ra đời, hàm ý tấn công, bình định các vùng đất trên sông rạch.
    Tại Tân Châu - Châu Đốc, Long Xuyên, Hà Tiên, Cần Thơ, lực lượng Hoà Hảo với người sáng lập giáo phái là Huỳnh Phú Sổ. Tại Tây Ninh giáo sư Thượng Vinh Thanh thay mặt Hộ Pháp Phạm Công Tắc tập hợp các tín đồ Cao Đài hợp tác với quân đội Nhật chống Pháp. Việt Minh và Liên Việt hợp nhất lấy tên Mặt trận Liên Việt hay Việt Minh, quy tụ nhiều thành phần quốc gia yêu nước. Mục tiêu duy nhất của các lực lượng là chống kẻ thù chung, dành độc lập cho dân tộc mình.
     Đoan Bình không theo ai cả, cô tập hợp lực lượng toàn nữ giới có cùng chí hướng, luyện tập võ nghệ và khai sáng “dân trí”. Cô không dám mang hoài bảo lớn lao như cụ Phan:”Khai dân trí. Chấn dân khí. Hậu dân sinh”. Chủ trương “khai dân trí” của cô không dành cho người mù chữ, đồng chí của cô là nữ lưu anh kiệt, con nhà gia thế có dũng khí bà Triệu, bà Trưng.
     Cô cho người theo dõi và ra tay trừng trị những tham quan ô lại, bất kỳ ai đang có quyền thế mà giàu có bất minh, không kể đảng phái, phe nhóm nào. Lực lượng của cô xuất quỷ nhập thần như thích khách, như cao thủ võ lâm trong truyện kiếm hiệp của Kim Dung.
     Một đêm không mưa gió nhưng màn đêm tối trời, cai tổng An nghênh ngang vung gậy quất vào đầu đám nông dân đang quỳ lạy cầu xin bớt sưu, giảm thuế. Bọn sâu dân mọt nước tôn cai tổng An lên bậc thượng thừa. Bỗng lưỡi dao như lá lúa xuyên thủng tim, chết đứng. Lũ quan làm to, mưu mô càng khó đoán, nhưng cứ nhìn hành vi của bọn tay chân, suy ra chân tướng kẻ tham tàn.
     Mật thám Pháp đưa lưỡi dao đi lấy vân tay, truy tìm hung thủ. Lưỡi dao mỏng manh như có thần, cong lưỡi chĩa vào yết hầu Rober – trưởng Phòng Nhì Pháp, hắn hoảng hồn vung tay, lưỡi dao cắm phập vào ngay mắt bức chân dung của hắn treo trên tường.
     Cai tổng An chết, dân nghèo cũng không bớt khổ. Hằng ngàn tên đầu sỏ, cai tổng An khác còn bạo liệt, tàn nhẩn hơn trên đất nước này. Dân càng nghèo, càng cong mình cam chịu  ách thống trị bất công.
     Đoan Bình mất phương hướng, lý tưởng của cô mong  “Quốc thái dân an” như mò kim đáy biển. Mộng tranh bá đồ vương của các phe phái, tàn sát lẫn nhau, gây ra biết bao thảm cảnh, trong khi đất nước như dầu sôi lửa bỏng. Ai vì nước vì dân?
     Hoàng Dung nhìn mây trời u ám, phương Nam hắt hiu buồn theo cơn gió tàn đông, ngâm nga điệu hò mái đẩy. Đò đi ngược nước, nhịp điệu cần dứt khoát:
“(ơ) Cựa Hói Cầu Hai (hờ)… Hấy. (Chơ) Ai về Cựa Hói Cầu Hai (hờ)… Hấy. (ơ) Thăm người bạn cũ (hờ)… Hấy. Thăm người bạn cũ (hờ)… Hấy. Chớ (có) nghe ai mà bỏ mình (hờ)… Hấy”.


     Nhưng mấy ai đồng lòng, nên đò cứ trôi xuôi, trôi mãi theo dòng nước, về đâu?

KHUNG TRỜI KHÔNG BÌNH YÊN

“- Ông có đi qua hẻm 1084/25/46/12/16 đường Phan Đăng Lưu chưa?”. Hẻm vòng vèo cuối cùng cũng thoát ra  bờ kè kênh Nhiêu Lộc.
     Đầu hẻm 25 có chị hai Đủ bán hột vịt lộn, kèm dưa chua, rau răm, ngãi cứu, muối ớt. Theo Đông y, rau răm có vị cay nồng, mùi thơm hắc, tính ấm, tác dụng ấm bụng, chống đầy hơi, sát trùng, tán hàn. Rau răm còn có tác dụng làm sáng mắt, ích trí, mạnh gân cốt, lạnh bụng, say nắng…. Ngãi cứu  giúp ổn định khí huyết, điều hòa kinh nguyệt, giúp thai phụ an thai, chữa đau bụng do nhiễm khí lạnh, và đau bụng kinh. Lá ngải cứu sao cháy còn có tác dụng cầm máu ngay tức thì.
     Chị chỉ bán tối đa mười trứng cho một người, mua nữa không bán, nói dành cho người khác. Bán hột vịt lộn mà chảnh! Chị than:”- Ít vốn!”. Tên chị là Đủ, vậy mà không “đủ”, thiếu trước hụt sau.
     Hột vịt lộn úp mề rửa sạch. Ngâm nước muối rang,  pha bột ngọt ajinomoto chính hãng, để qua đêm cho dung dịch ngấm vào trong, sau đó chỉ hấp chứ không luộc.
     Chồng chị hai Đủ trước làm thợ hồ, nay chạy xe ôm, được chăng hay chớ, thích thì chạy không nằm nhà, vốn con nhà lính lại tính nhà quan. Bốn đứa con cứ bấu lưng mẹ. Thời nay học hành, sinh hoạt tốn kém đủ thứ, nhưng cứ ba năm hai đứa.
     Tiêu chuẩn của anh và con hằng ngày: Sáu trứng vịt lộn, hai chai bia Saigon, cộng thêm gói thuốc Bastos xanh. Đôi khi có bạn bè lại gấp đôi gấp ba. Cũng có lúc bạn bè đãi ngược, những lúc ấy, mặt chị rạng rỡ nhìn thấy thương. Nhưng tuyệt nhiên, không ai thấy anh chị cắng đắng nhau bao giờ.
     Hường – gái đầu, năm nay lớp mười, phổng phao ra dáng thiếu nữ thật xinh. Anh hai Đủ khề khà:”- Ráng học hết cấp ba, tao cho đi thi hoa hậu!”.
     Hoa hậu đâu không thấy mà con nhỏ có bầu. Bụng nó to dần, nó than tại ăn hột vịt lộn! Chị hai Đủ than trời trách đất, anh hai gầm gừ nốc cạn ly bia, mắt vằn lên dễ sợ. Hường ngồi khóc thút thít, tóc rủ che khuôn mặt yêu kiều, không biết nó nghĩ gì. Con hẻm thông ra năm ba đường phố, xe máy chạy rần rần suốt ngày đêm, làm sao biết được ai đã dụ dỗ nó? Anh hai Đủ xỉa xói chị: “Có con không biết dạy!”. Chị ngồi bó gối, đôi mắt đỏ hoe, nhìn con vừa thương vừa giận.
     Có nhân quả thiệt mà. Anh chị nên vợ nên chồng cũng vì ăn cơm trước kẻng. Nhưng gia đình chị nắm được thằng có tóc. Bây giờ mù tịt, dỗ dành hết lời, nó im thin thít.
     Con Hường bỏ học. Thằng Hưng nhìn chị thương cảm, nước mắt nó ứa ra. Nó học cùng trường với chị, nhưng tuyệt nhiên không thấy ai là bạn trai của chị. Tuổi mười ba như búp măng non, vô tư lự.
     Cây trứng cá trước nhà, lá rụng đầy con hẻm nhỏ, bóng mát toả rộng, căn nhà thêm u tối. Anh hai Đủ ôm con vào lòng, Hường càng tủi thân khóc rấm rức. Con bé cứng đầu ôm nỗi niềm riêng trong thầm lặng, đôi mắt buồn hiu xa vắng.
     Cơn mưa bất chợt, ùn ứ người đi đường vội vả nép dưới tàn cây trứng cá, tràn vào cả mái hiên. Gã có hàm râu quai nón, đưa cánh tay xăm trổ vằn vện gạt những giọt nước trên mặt, đôi mắt cú vọ nhìn hai chị em Hường qua khung cửa hẹp. Tự nhiên Hường rùng mình, em chạy vào trong phòng, chân tay vẫn còn run. Hắn đó…

     Bà tám Hơn thương gia đình hai Đủ hiền lành, chơn chất mà nghèo. Bà tám có nhà to, sân rộng ngay đầu hẻm, kêu anh hai Đủ qua dọn vệ sinh. Bà cho tiền mua cây gỗ, tole ván về làm quán, treo bảng to đùng: “Hột vịt lộn HAI ĐỦ”.
     Anh hai Đủ bỏ chạy xe ôm ở nhà phụ vợ. Con Hường ôm bụng bầu cũng lăng xăng với mẹ. Hột vịt lộn hai Đủ ai ăn qua một lần nhớ đời. Số lượng cứ tăng dần, suốt ngày bán không hở tay.
     Mụ năm Dư - hội phụ nữ, đã không giúp đở hộ nghèo còn le te cầm sổ, kêu gọi ủng hộ năm chục hột vịt lộn, liên hoan ngày Phụ nữ. Anh hai Đủ trừng mắt:”- Ngày Quốc tế Phụ nữ 8 tháng 3, con vợ tui không có được gói xôi, lấy đâu hột vịt lộn cho mấy bà?”. Mụ năm Dư hăm he:”- Trốn thuế còn to mồm!”.
     Bà tám Hơn quê gốc Ninh Bình, di cư vào Nam năm 1954. Ninh Bình nổi tiếng quần thể nhà thờ Phát Diệm, gồm một nhà thờ lớn và năm nhà thờ nhỏ, đặc biệt nhà thờ Đá, được xây bằng đá tự nhiên mang đậm kiến trúc Gothic. Nhà thờ lớn được xây dựng năm 1891, với tên chính thức: “Nhà Thờ Đức Mẹ Mân Côi”, nay là nhà thờ chính toà Phát Diệm.
     Nhà thờ Đá khởi công năm 1883. Tên nguyên thuỷ: “Nhà nguyện Trái tim Vô nhiễm nguyên tội Đức Mẹ”. Bên trong được chạm nhiều bức phù điêu đẹp, nhất là bức chạm tứ quý: tùng, mai, cúc, trúc. Đường nét khắc hoạ sư tử, phượng hoàng sống động như thật.
     Gia đình bà tám Hơn ngoan đạo. Con cháu thành đạt, có người là giáo sư, tiến sĩ. Nhưng nay đã ở nước ngoài.
     Bà thương con Hường nết na, thuỳ mị. Bà xin vợ chồng hai Đủ cho Hường về sống với bà. Ngày Hường khai hoa nở nhuỵ, bà túc trực ngày đêm ở bệnh viện, bà nguyện cầu, lạy ơn trên. May sao mẹ tròn con vuông, thằng con trai bụ bẩm. Hường làm mẹ khi chưa tròn mười sáu.
    Cháu thôi nôi, bà tám Hơn gởi Hường vào trường phổ thông nội trú Quốc Tế I.S.U của Mỹ tại Việt Nam.


     Noel trời trở lạnh, chị hai Đủ ho khúc khắc, co rúm người. Anh hai bật dậy nhóm lửa, bếp than tổ ong nghi ngút khói càng làm chị ngộp thở. Chị quấn chăn bước ra ngoài hiên. Những vì sao long lanh trên bầu trời xanh thẳm, tiếng chuông sớm nhà thờ như nâng hồn chị trong phiêu bồng an lạc.
     Chị giật mình, thằng Hưng dụi đầu vào lưng mẹ. Hôm nay nó nghỉ học, nó sẽ đưa mẹ vào bệnh viện Phạm Ngọc Thạch. Ai cũng nói mẹ nó ho lao, kẻ xấu mồm tung tin phá hoại nồi cơm của chị, hèn gì mấy hôm nay ế ẩm. Ở đời sự đố kỵ, ghen ăn tức ở không biết đâu mà lường.
     Không phải chị hai Đủ ho lao, nghèo mà mang bịnh nhà giàu. Chị bị ung thư phổi…
     Anh hai thừ người, những gì có thể đã đội nón ra đi, căn nhà cấp bốn cầm cố ngân hàng, sự giúp đở của bà tám Hơn, bà con lối xóm và cả thân tộc không thể cứu chị, giành chị ở lại với anh. Chị ra đi khi con Hường vừa tốt nghiệp cấp ba.
      Ngày mãn tang chị, hai nhân viên ngân hàng gõ cửa nhà anh. Họ không đến viếng, nhưng đến thông báo nợ vay quá hạn, căn nhà sẽ bị tịch biên. Nhìn lên bàn thờ chị nghi ngút khói hương, họ ban ơn gia hạn cho anh, hai tháng trả nợ cả gốc lẫn lãi.
     Anh hai Đủ ngạc nhiên thấy ba người khách lạ, xăm xăm bước vô nhà. Người đàn ông lớn tuổi đặt lên bàn cặp rượu, gói trà, hộp bánh biscuit. Anh thanh niên chắp hai tay, mặt cúi gằm liếc nhìn quanh căn nhà trống rỗng. Người đàn bà trông dáng sang trọng, đằng hắng:”- Thưa ông! Chúng tôi là song thân của cháu đây!”. Bà hướng về người trẻ tuổi:“Con dại cái mang, cháu đã trót phạm đại tội với gia đình ông. Đã phá tan cuộc đời thơ ngây, trong trắng của cháu Hường!”. Bà lấy khăn chặm mắt, giọng thương cảm:”- Nay gia đình tôi đến đây xin lỗi ông bà và cháu, cho phép chúng tôi chuộc lại lỗi lầm con tôi đã lỡ dại gây nên”.
     Anh hai dần hiểu ra cớ sự. Thằng trời đánh đã dụ dỗ, hiếp dâm đứa con xinh đẹp, ngoan hiền của anh.
     Thằng râu quai nón, xăm trổ vằn vện, quý tử nhà ông Quang, cán bộ to. Dành hết những gì ông săn lượm được, cho thằng Danh - con cầu tự. Vậy mà hắn lêu lổng chơi bời, đàn đúm hút xách. Hơn bốn năm về trước, hắn tổ chức bắt cóc con gái yêu quý của anh, vùi hoa dập liễu, gây tội tày đình.
     Mắt anh sáng quắc, đứng bật dậy chỉ tay ra cửa:”- Tụi bay cút khỏi nhà tao!”. Anh chạy xuống bếp định lấy dao, gian bếp trống trơn từ ngày chị mất, con dao chẻ củi cũng không còn. Những người khách lui gót tự lúc nào, anh ném hết “sính lễ” ra gốc cây trứng cá. Rượu vỡ trộn lẫn những trái cây trứng cá rụng chín đỏ sẩm màu máu, như nỗi lòng  tủi nhục của anh.
     Bà tám Hơn xót xa nghe câu chuyện kể. Bà quyết định cho Hường du học Hoa Kỳ. Nhưng kỳ lạ thay, Hường xin ở nhà chăm sóc cho cha và ba đứa em còn thơ dại. Gia đình ông Quang lại xuất hiện xin nhận cháu nội, cháu bé giống cha như tạc. Thằng Danh không buông tha Hường, hắn cho đàn em rình mò...
     Trời về khuya, con hẻm nhỏ hiu hắt ánh đèn xuyên qua kẽ lá. Thềm nhà anh hai Đủ tranh tối tranh sáng, khung cửa sắt cũ đã khép, le lói đôi đèn hột vịt trên bàn thờ chị hai như cặp mắt đỏ quạch.
     Bà tám Hơn mua lại căn nhà rách nát của anh chị hai Đủ, thanh toán nợ ngân hàng. Hường nối tiếp nghề của mẹ, vừa học vừa làm. Em sắp tốt nghiệp đại học kinh tế. Hưng nối gót chị, đang học y khoa.
     Cu Bình ôm lưng cậu. Ở trường chắc có gì vui, hôm nay cháu rộn rã tiếng cười, liếng thoắng kể cậu Hưng nghe đủ chuyện:“- Cháu có nhiều bạn, cháu có người yêu! Lớp lá, lớp chồi…”. Tiếng rú của xe ô tô hất văng hai cậu cháu, Hưng nghe tiếng rạn vỡ của những mảnh nhựa, anh lồm cồm bò dậy, chân tê điếng. Cu Bình không thấy đâu, anh gào gọi tên cháu trong cơn đau đớn của ống chân gãy.
     Mắt anh hai Đủ vằn lên tia máu. Lũ khốn nạn còn gieo tang thương cho gia đình anh đến lúc nào? Nhìn chân con bó bột anh nghe tan nát cõi lòng. Trình báo cũng vô ích, anh đi tìm công lý bằng lý lẽ của riêng mình.
     Hường khóc rấm rức, oan khiên từ kiếp nào gieo rắc đời em?. Bà tám Hơn ôm em vào lòng. Lời nói nào cũng vô nghĩa với nỗi lòng ngổn ngang trăm mối.
    Thằng râu quai nón nhìn anh hai Đủ bằng đôi mắt cầu khẩn, hèn nhát. Bàn chân thô ráp của người đàn ông một nắng hai sương, đè lên chiếc ngực lông lá vằn vện. Anh đưa mũi dao nhọn hoắt, định đâm vào phần phập phồng của con tim thằng cốt đột, trong trạng thái hoảng loạn. Hình ảnh cu Bình hiện ra lung linh với nụ cười thơ ngây mỗi lúc học về, tíu tít bên anh.“- Cu Bình ở đâu?”. Dạ, nhà con.”- Nhà mầy ở đâu?”. Dạ, 234 Hoàng…
     Anh nhảy lên chiếc xe máy cà tàng, như nhảy lên yên ngựa. Căn biệt thự nguy nga nép dưới hàng cọ cao vút, hai mặt tiền đường. Anh nhún chân nhảy vào, hai con chó berger sủa rân đánh động. Không ai biết anh hai Đủ võ nghệ đầy mình, ông Quang bước ra đã bị dao kề cổ.
“- Cháu tôi đâu?”. Tiếng trẻ con khóc ré lên, chạy ù ra ôm chân anh hai Đủ. Anh buông ông Quang:”- Ông còn nợ con trai tôi, cái chân gãy!”. Rồi ôm cháu Bình nhảy phóc ra ngoài.
     Ông Quang đứng như trời trồng, mặt cắt không còn giọt máu, gào lên:”- Nghiệp chướng, nghiệp chướng mà!”.
     Đêm nay mưa ầm ào như trời trút nước, kèm theo cơn lốc cuốn xoáy chạy dài theo con hẻm nhỏ. Giang hồ tứ chiếng như anh hai Đủ một thời, nay đã hoàn lương thân cũng không yên. Cha con lão Quang muốn đẩy anh vào con đường nào đây? Một lũ giòi bọ làm người, gieo bao tang thương ngẫu lục.
     Vận nước nổi trôi, thời cuộc đảo điên thời nào chẳng có. Thịnh suy như giấc Nam Kha. Thuần Vu Phần nằm mộng thấy đến nước Hòe An. Thuần được vua Hòe An cho vào bái yết. Thấy Thuần tướng mạo khôi ngô nên gả con gái và đưa ra quận Nam Kha làm quan Thái thú, cai trị cả một vùng to lớn.
     Đương lúc vợ chồng Thuần sống cuộc đời vương giả, thì bỗng có giặc kéo đến vây quận Nam Kha. Thuần đem quân chống cự. Giặc đông mạnh, Thuần thua chạy. Quân giặc vây thành đánh phá. Công chúa nước Hòe An, vợ của Vu Phần chết trong đám loạn quân.
     Thuần Vu Phần đem tàn quân chạy về kinh đô. Nhà vua nghi Thuần đầu hàng giặc, nên tước hết phẩm hàm, đuổi về làm thường dân. Thuần oan ức vừa tủi nhục, khóc lóc bi thương... Vừa lúc ấy thì Thuần chợt tỉnh dậy, thấy mình nằm dưới gốc cây hòe. Cạnh Thuần lại có một ổ kiến lớn. Bầy kiến kéo hàng đàn hàng lũ trèo lên cây hòe.
     Bà hai Hơn giao lại cơ ngơi cho anh hai Đủ và đưa mẹ con Hường sang định cư ở Mỹ. Sau ngày Hường tốt nghiệp Tiến Sĩ Khoa Học Pháp Lý (SJD), em đã bảo lãnh gia đình sang Hoa Kỳ.
     Phi trường Quốc tế Tân Sơn Nhất chói chang nắng. Anh hai Đủ đưa mắt nhìn về hướng Bà Chiểu, nơi ấy có căn nhà nhỏ trong con hẻm nhỏ ngoằn nghèo, nhưng thân thương và cam chịu với bao cảnh đời khốn khổ như anh. Nhìn qua khung cửa sổ máy bay, những con rạch vòng vèo, dòng kinh Nhiêu lộc phản chiếu ánh mặt trời lung lịnh, như cố níu kéo cha con anh…


     Biển bao la xanh màu ngọc bích, những áng mây trắng lững lờ trôi ngược dưới cánh bay, như mang hộ nỗi niềm ly hương trong anh về nơi cố xứ.

LY HƯƠNG

     Nhận được thư tay, từ người quen: Anh Đồng. Sau ngày Thành  được tha về. Anh viết:“Quê mình không sống nổi đâu, em thu xếp đưa vợ con vào trong này. Miền đông Nam bộ dễ sống,  dù còn nhiều khó khăn. Nhưng nhân tâm rộng lượng, hơn nữa đa số bà con, hoàn cảnh giống tụi mình, dễ cảm thông và sẳn sàng giúp đở nhau hơn”.
     Năm năm làm lính, trú đóng nơi heo hút đồi mây, núi đá. Sống chết dễ như trò chơi sấp ngửa. Những ngày phép thường niên ngắn ngủi, chỉ dành cho người tình, bạn bè bù khú…
     Tuổi hai lăm, cộng năm năm tù đày, bây giờ gần được mẹ cha. Cha hom hem vì bệnh phổi kinh niên, mẹ còm cỏi, con dâu và mẹ chồng chưa quen nghề ruộng đồng, nuôi heo, thả vịt. Kính cận thị của vợ bị vỡ mất một tròng, đi đứng loạng choạng như người mộng du, rối loạn tiền đình.
     Dù gì quê hương mình vẫn là máu thịt. Đui què mẻ sứt, vẫn cố quay về.

“Ngày trở về, anh bước lê/ Trên quãng đường đê đến bên lũy tre/ Nắng vàng hoe, vườn rau trước hè cười đón người về. 
Mẹ lần mò, ra trước ao/ Nắm áo người xưa ngỡ trong giấc mơ/ Tiếc rằng ta, đôi mắt đã lòa vì quá đợi chờ…”
…...
 (Ngày trở về - Phạm Duy)

    Thành ngước nhìn ngôi nhà ngói cũ bị đạn bom, chỉ còn ba mặt tường nham nhở. Những tấm tole được chằng buộc bởi những cây tre gìa, thân mốc meo buồn thảm. 
     Ngày vợ Thành sinh con thứ ba, cũng là ngày mẹ anh qua đời đột ngột vì tai biến, vỡ động mạch não. Mẹ vừa qua tuổi năm mươi.
     Tấm thân bệnh hoạn của cha anh suy sụp hẳn. Nỗi đớn đau mất người thân yêu nhất, xé nát tâm hồn anh. Đêm trời trở gió, anh lang thang trên cánh đồng, chỉ còn trơ gốc rạ. Hình ảnh mẹ quấn quýt bên anh, bóng dáng tiều tuỵ vì thiếu ăn, đang lom khom trên ruộng lúa ngày nào, bừng lên niềm hân hoan khi anh được tha về bất chợt.
     Anh tập tành làm y tá thay mẹ, chích thuốc cho cha. Mũi tiêm đâm vào mông khô héo, không còn cơ bắp. Tay anh run run, tựa hồ như ai bóp nghẹn tim mình. Cha quay nhìn anh, đôi mắt buồn hiu kèm theo tràng ho dữ dội.
     Anh vẫn không yên với cảnh đời đã quá ư nghèo khó. Sự đố kỵ và lằn ranh vô hình đen đỏ tách biệt gia đình anh với những người trong làng, kể cả người thân, khiến người cha cô đơn của anh và cả bản thân anh trở thành cô độc.
     Xa xa về hướng Tây Nam,  dãy Ngọc Linh mờ mịt. Anh nhớ những đêm hè, ánh lửa bập bùng xa tít  trên lưng chừng núi, khói quyện vào trong mây. Không nghe tiếng đạn nổ, bom rơi, vừng sáng hoả châu như ánh trăng huyền ảo pha sắc máu trong đêm, khiến làng quê anh chao đảo, không thể yên bình.
     Anh nhìn con chó của cha, đôi mắt nó nhìn anh không chớp, đuôi ngoe nguẩy cầu thân. Sự cùng quẩn khiến anh chợt có ý man rợ. Đứa con gái lên ba, ghẽ lở đầy mình khóc ri rỉ như mèo hoang trong đêm khuya vắng. Không có gì để đãi quan viên, từ ngày anh vác chiếc ba-lô con cóc rách nát về quê.
     Con chó ngoan ngoãn theo anh. Mương thuỷ lợi lững lờ, dòng nước trong veo soi bóng anh mờ ảo, nhưng đôi mắt anh rực lửa. Không một tiếng kêu, chỉ nghe ặc ặc đuối nước của con vật thân yêu, lịm dần mềm nhủn trong bàn tay anh.
     Sông Thu Bồn vượt qua bao đồi núi đưa phù sa bồi đắp. Gần đến biển, sông Thu Bồn và sông Bà Rén gặp  nhau để hoà với dòng Trường Giang chảy qua phố cổ Hội An, rồi đổ ra Cửa Đại.

             “Ngó lên Hòn Kẽm Đá Dừng
               Thương cha nhớ mẹ quá chừng bậu ơi...”

     Những cụm đồi Bồ Bồ rừng thông xanh tươi, hồ nước phẳng lặng trong lành. Từ trên đỉnh đồi nhìn về hướng Nam, phong cảnh quê hương anh như dải lụa xanh ngút ngàn. Anh nghe đâu đó, một con mối chúa có hàm lượng dinh dưỡng bằng ký thịt bò, còn tăng cường sinh lý, bổ thận. Anh đào, anh phá tan hoang gò mối. Đất tổ mối chai cứng khiến anh vã mồ hôi, chân tay bủn rủn vì đói. Những con mối lính đưa hai càng nâu đen, găm vào da thịt anh căm phẩn. Anh xới đào từng hang hốc nhỏ bé truy lùng mối chúa. Gánh sắn trên vai anh nặng trĩu, những củ khoai mì da mốc thếch cứu đói, nhân sâm của gia đình anh.
     Thằng Cu đen cùng thời tiểu học - giờ là ông Y, cán bộ xã, gởi giấy mời. Hắn còn lạ gì lý lịch ba đời nhà anh. Ông nội anh: Thầy dạy chữ nho cho ông nội hắn và cả cha hắn.   
     Hắn làm như không hề quen biết. Sự đối kháng hằn trong ý nghĩ và mặc cảm thân phận, khiến mắt hắn đỏ rực những tia máu. Hắn hất hàm:
“- Ký vào, đi gỡ bom mìn! Tụi mầy gieo thì tụi mầy dọn”.
      Tiếng nổ đanh gọn của quả lựu đạn rỉ sét mang nhãn hiệu Liên Xô. (Lựu đạn F1 được sử dụng rất phổ biến trong chiến tranh, Liên Xô sản xuất hàng loạt nhằm trang bị cho du kích. Phần lõi lựu đạn không chỉ chứa thuốc nổ mà ngoài ra còn có mảnh vỡ của kim loại, thủy tinh, sành, sứ.)
    Tiếng kêu rên của các bạn đồng hành khiến anh đau đớn. Xé miếng vải áo mục không âm sắc buộc vội, dòng máu oan nghiệt, di hại của thời chiến tranh tàn khốc vẫn còn chảy mãi, trên thân phận nhược tiểu của quê hương anh.
…..
     Hắn đã thắt ống dẫn tinh, nhưng không hiểu sao vợ hắn lại mang bầu đứa thứ năm. Mụ Bình – hội phụ nữ xã   khuyến khích phá thai. Thời nay chuyện phá bỏ dễ ợt, nhau thai ngâm rượu bồi bổ sức khoẻ, chữa được bách bệnh. Hắn quay mặt ghê tởm những lời phát ra từ miệng mụ. Hắn quát đuổi mụ ra khỏi nhà, mụ cầm nón đi te te, còn ngoái lại phun miếng bả trầu đỏ lòm như máu.
     Những linh hồn thai nhi lượn lờ như những cánh hoa bay vật vờ trong gió, vô diện, vô danh.
     Mụ Bình gọi những hủ rượu ngâm nhau thai (đông y gọi tử hà xa) là mỹ tửu. Mụ chỉ dành biếu tặng cho quan chức trong làng, xã. Gò Găng phía sau nhà mụ, những chiếc hủ sành cỏn con nằm lăn lóc. Xác những thai nhi bị đào bới bởi những con chuột rụng hết lông.
     Vợ hắn đi đặt vòng tránh thai. Nhưng lại có thai, thai ngoài tử cung, suýt chết. Từ đó vợ hắn thay đổi tính tình, mất thiên chức làm vợ. Trước đây dịu dàng, nhu mì bao nhiêu nay càng mạnh mẽ, đàn ông tính bấy nhiêu.
     Thành chia sẻ với hắn từng củ khoai, củ sắn. Đám con liu chiu lít chít, gầy tong teo và đen nhẻm như đám trẻ Somali. Ba đứa con anh chẳng khác gì hơn. Vậy mà không biết hắn nhiễm chất độc gì, hai mắt mờ dần rồi mù hẳn.
     Hắn tốt nghiệp phó đốc sự, quốc gia hành chánh. Nghề giáo như Thành còn mất dần chữ nghĩa, huống gì nó.
     Hắn mưu sinh bằng nghề đan giỏ. Đôi tay như có mắt, thoăn thoắt điệu nghệ. Những chiếc lạt tre múa vặn mình,  thành những hình lục giác đều đặn, đẹp mắt. Đôi mắt hắn trắng dã, chớp chớp lăn dài trên má, hai giọt nước trong veo.
    Anh Đồng là anh vợ hắn. Thôi đành giã từ bản làng, quê quán. Hai gia đình xếp gọn hành trang, cất bước ly hương.
…….
     Những ngày giáp tết, mưa rả rích thật lạ. Mùa cao su rụng lá cũng bắt đầu mùa khô ở miền Đông Nam bộ. Hàng cao su thẳng tắp, lá vàng nâu reo trong gió, đẹp như rừng phong Bắc Âu.
     Năm nay thời tiết đỏng đảnh, vườn cây chôm chôm tả tơi trong gió, hoa rụng đầy đất. Không gian ẩm ướt, có lẽ mưa muộn cuối mùa.
     Hoa đào hoang màu hồng phớt, phả vào lòng người tha hương nỗi niềm cô quạnh. Bàn thờ tổ tiên không thể ấm lên, khi lòng người ly tán. Tiếng chuông chùa Diệu Pháp ngân vang trong đêm giao thừa lạnh lẽo, càng nghe quạnh hiu xa vắng.
     Thành nhìn sang nhà hắn. Căn nhà bên bìa rừng cao su reo khẽ tiếng lá buông xác xơ trên vách. Ánh đèn tù mù như đom đóm lập loè trong đêm, điểm xuyết những chấm lửa lẻ loi của tàn hương.
     Đã từng đón năm mới trên đèo heo hút gió, trong rừng lau lách nghe tiếng đạn reo, nhưng anh không có cảm giác cô đơn như đêm nay.
……

Bốn bể luân lạc tha phương

Trời Nam, nghìn dặm thẳm
Non nước, một màu sương
Chí chưa thành, danh chưa đạt
Trai trẻ bao lăm, mà đầu bạc
Trăm năm thân thế, bóng tà dương
Vỗ gươm mà hát, nghiêng bầu mà hỏi
Trời đất mang mang
Ai người tri kỷ…
Lại đây cùng ta
Chung cạn một hồ trường!”
….
(Hồ trường – Nguyễn Bá Trác)

     Hắn không tin thượng đế, trời Phật cũng không. Vậy mà hắn đi tu. Hắn đã giải thoát cho chính vợ con hắn.Tấm thân tàn phế đui mù ngậm văn chương, tri thức nghêu ngao, ngâm nga tràn cung mây. Nghêu ngao cho quên đời hay ngâm nga để ngậm ngùi?
     Thành gom hai gia đình làm một. Anh Đồng chắc lưỡi:”- Một ông, hai bà chín đứa nhóc!”. Anh chia:”- Ba đứa lớn ở cùng anh!”. Vậy là Thành còn chín nhân khẩu.
     Chị Dung – vợ hắn, tốt nghiệp trường sư phạm Qui Nhơn. Niên khoá đầu tiên, chị được phân công về dạy ở trường tiểu học Phước Sơn, dưới chân núi Ngọc Linh. Ngày giã từ quê hương, chị mang theo cả nỗi niềm và tình yêu của những đứa học trò bé bỏng ở miền quê nghèo Phước Sơn, Duy Xuyên, Đại Lộc.
      Hằng ngày chị đi chặt lá buông về đan hàng thủ công mỹ nghệ, chiếc áo bộ đội cũ dài quá khổ, bê bết mủ cây rừng xám đen, tạo thành bức tranh đời buồn thảm.
     Cộng buông như tàu dừa, nhưng có hàng răng cưa nhọn bén. Chị vót những đôi đũa trắng tinh, có đường vân rất đẹp. Lá buông dùng lợp nhà, dừng vách và buộc bằng sợi lạt sóng lá, để che gió mưa. Lá buông non được chằm thành tấm hoặc rọc thành nan để đan túi ví, làm nón, bao đựng, bện thành dây…
     Cũng từ bắp lá non tơ, đã xa lắm rồi, những cánh buồm đan lá căng gió lướt sóng biển khơi, trở thành hình ảnh phiêu bạt và thơ mộng của một thời.
    Tiếng trẻ thơ cười nói, nghịch ngợm, nô đùa. Tiếng ê a ngọng nghịu của đám học trò nhỏ thành dư âm trong lòng chị, vang vọng mãi…Trong giấc ngủ mệt nhoài, chị nghe văng vẳng tiếng trống vào lớp, chị giật mình bật dậy. Tiếng côn trùng rả rích đâu đây…
     Trời đã tối dần, đường về còn xa. Tiếng vượn hú não nuột từ rừng sâu, cơn mưa bất chợt khuấy động bầy vắt, bung ra bám đầy tay chân, mặt mũi của những người đi rừng như chị, vừa gánh vừa kéo lê bó lá dài quét đất. Mớ dây leo ngớ ngẩn buông lơi, vướng víu như trêu ghẹo những người tha phương cầu thực. Mồ hôi chị chảy dài pha trộn mưa rừng, không làm chị bớt cay mắt.
………..
     Không ai hiểu tâm trạng của anh Đồng. Anh ngán ngẩm thế nhân, lên rừng. Đời gì thế? Nhìn đâu cũng thấy nghi kỵ, thủ thế.
     Rừng miền đông Nam bộ bạt ngàn. Những giọt dầu tươm tinh tuý, thân cây dầu thẳng đụt. Càng thẳng càng dễ bị hạ. Những cánh “muồng hoa đào” nở rộ, anh phát rừng làm rẫy. Chỉ có anh với những đàn chim, sóc, heo rừng…
     Thanh âm của chúng, anh thấy vui. Anh sợ tiếng người, ghê sợ giọng cười giả lả. Những ánh mắt như có sắc nhọn của mũi tên, của gươm… Anh tự nhận mình là con chim cun cút. Anh sợ lưới.
     Tiếng mưa rừng tí tách, lộp độp buồn hiu. Nhưng lòng anh thảnh thơi kỳ lạ. Đàn chim bay về trú ngụ bên anh, cánh ướt tả tơi, đang rỉa lông cho nhau. Anh lại nghĩ về loài người, đang nhổ lông nhau.
      Ánh nắng hiếm hoi xuyên qua tàn lá. Đàn heo rừng chạy ngang căn lều, tiếng khịt khịt và giọng hót lảnh lót của con chim lạ, khiến tâm hồn anh bùi ngùi thương cảm vô cớ.
      Nhìn con sóc chít chít trên xà nhà, anh ôm lá khô vun tròn thành tổ ấm. Bếp lửa khói um ngột ngạt, khiến bầy chim bay vụt ra ngoài. Anh hối hận, nơi nào có bàn tay con người, cũng gây tệ hại.
     Bếp lửa bừng sáng, gió dìu dịu làm lá cọ khô trên vách, run lên khe khẻ. Tiếng còi tàu sắp đến ga Trảng Táo vang vọng ngân dài, gợi nhớ miền đô hội xa xôi. Đường tàu như mũi tên xuyên qua cánh rừng, rồi mất hút về hướng Gia Huynh, Suối Kiết.
     Anh Đồng nói đúng. Quê nhà mình, đến gò mả cũng đào xới để trồng khoai mì, rau đậu. Bờ tre lụi tàn vì đào hết gốc, tấc đất tấc vàng… nhưng xác xơ vẫn hoàn xơ xác.   
     Nhưng nơi này, vùng đất ba-dan đỏ au màu mỡ. Rẫy ngô xanh ngát, hoa màu tốt tươi, trù phú bạt ngàn ven lô cao su. Đất cũng rộng lượng và bao dung như tấm lòng người dân Nam bộ.
     Anh Đồng giao hết cơ ngơi cho Thành, bỏ phố lên rừng. Thành trở thành anh giáo làng bất đắc dĩ, ba gia đình mười bốn đứa học trò đủ loại, nhưng chẳng đứa nào có khai sinh.
……
     Hơn nửa tháng rồi, anh Đồng không về. Khi Thành đạp xe băng rừng đến nơi, anh đã chết. Xác anh nằm cong queo trên võng, khô đét. Rừng mùa khô, trảng tranh cháy nham nhở, chiếc lá to bản của cây dầu truớc hiên, khô cong bay vòng vèo đậu xuống ngực anh, như an ủi và tống tiễn một linh hồn ra đi trong cô quạnh.
     Thành nghẹn ngào nhớ lời anh:”- Một ông, hai bà chín đứa nhóc!”. Bây giờ, một ông ba bà, mười bốn trẻ ranh.
     Chị Dung thành lập tổ “thủ công mỹ nghệ”. Tận dụng lao động tối đa. Thành liên hệ nhận hợp đồng từ HTX mây tre lá Ba Nhất. Ngày đầu khởi nghiệp Ba Nhất cũng:“Không nghề, không vốn, không kinh nghiệm làm ăn”.
     Chị Dung phân công cho mấy đứa lớn lên Bình Dương học nghề đan lát. Từ ngày mấy đứa nhỏ được nhận vào trường, Thành rảnh tay hơn, anh khai thác nguyên liệu dồi dào từ rừng. Những chuyến xe đầy ắp mây, tre, lá đã thành chất đốt vì mốc meo và không có điều kiện bảo quản. Kinh nghiệm đổi bằng máu, mồ hôi lẫn nước mắt.
…..
     Mười bốn thằng nhóc ngày nào, đã có hơn một nửa du học các nước Tây Âu. Đứa lớn nâng dần đứa nhỏ tiếp bước trên con đường tìm đến với tri thức. Sự gắn kết của những chiếc lá buông, song mây, tre nứa bình thường trở thành hàng thủ công mỹ nghệ.
     Chúng sẽ làm gì cho đẹp lòng quê hương hay mang nỗi buồn viễn xứ của người tha phương ngay trên đất nước mình và trên cõi đời này?

TRĂNG TREO MÁI LÁ

Tôi đi loanh quanh vì không biết đường, vác trên vai bao tải nặng trịch. Bỗng nhiên cô gái từ trong nhà bước ra chận đường: - Anh tìm ai mà...