Thứ Tư, 25 tháng 9, 2019

GIỌT NẮNG TRONG SƯƠNG


     Cuối tháng lãnh lương dạy kèm, tôi được tặng thêm con chó Mi-lu. Mi-lu thuộc giống chó Nhật lai phốc, đôi tai dài cụp với bộ lông trắng tinh mượt mà. Em Mi-lu nhìn tôi không thân thiện nhưng nhẫn nhục nằm im trong chiếc giỏ gắn trước xe đạp, chiếc giỏ có em lắc lư theo tay lái quanh co tránh những vũng nước còn đọng lại trên con đường đất gồ ghề, sau cơn mưa đầu mùa.
     Em ngoan ngoãn đứng yên cho tôi kỳ cọ, mẹ bê nồi nước bồ kết đã gội đầu còn lại bảo tắm cho em. Dòng nước màu nâu nhạt lan tỏa hương bồ kết khiến em ngạc nhiên đưa đôi mắt tròn vo ngây dại nhìn tôi. Mi-lu hích hích chiếc mũi xinh xinh đen bóng, liếm liếm tay tôi. Ôi! Khuôn mặt em thánh thiện làm sao…
     Mẹ chỉ có mình tôi, cha đã chết – mẹ nói tôi giống cha, dù trên bàn thờ không có di ảnh của cha tôi. Tôi thi đỗ đại học Bách khoa, nhưng thành phần nhà ngoại tôi thuộc dòng khoa bảng quan lại, người ta nói tôi không cần đi học, địa phương không cắt chuyển hộ khẩu nên tôi không có giấy báo nhập trường.
     Mẹ tôi tốt nghiệp đại học sư phạm nhưng không được lưu dung, sau ngày đất nước hòa bình. Mẹ tần tảo ruộng vườn nuôi tôi khôn lớn, cậu Ban sau ngày đi “cải tạo” về được làm thư ký Đội A của hợp tác xã nông nghiệp, cậu chấm công điểm cho mẹ con tôi, mẹ được lãnh thêm sáu mươi ký lúa “điều hòa” nhờ dạy bổ túc văn hóa.
    Cậu Ban nói:
-         Nhà có con Ki-ki rồi, nuôi Mi-lu lại thêm miệng ăn
hay là giảm bớt “cẩu khẩu”?
     Ki-ki là con chó đực được nuôi ở nhà ngoại từ khi tôi còn bé, có lẽ Ki-ki bằng tuổi tôi không chừng.
-         Nghĩa là sao hở cậu?
-         Nhà không có gì để “cải thiện” cậu định thịt Ki-ki,
luôn tiện đãi “quan viên” hợp tác xã, từ lúc cậu về chưa có…
    Cậu dụ Ki-ki chạy ra ao làng đầy bông súng trắng lung linh viền cánh hoa tím ngát. Tôi theo sau Ki-ki, Ki-ki quay đầu nhìn tôi vẫy đuôi tíu tít, ghé chân đái vào lùm cỏ rồi hớn hở chạy theo chân cậu. Cậu Ban để nguyên áo quần lội nhanh xuống ao, Ki-ki không ngại ngần nhảy theo cậu, nó còn quay đầu đưa mắt nhìn tôi như thầm khuyến khích tôi bơi…
     Cậu Ban quay lại kéo ghì hai chân sau Ki-ki, tiếng ặc ặc từ cổ họng Ki-ki nhỏ dần, bong bóng nước trồi lên đong đưa những cọng rong xanh…
     Cậu và tôi ngồi bên thi thể Ki-ki, từng giọt nước mắt xót xa ứa ra chảy dài trên khuôn mặt khắc khổ của cậu. Chắc chắn Ki-ki không thể ngờ người mình tin yêu lại cố tình đưa mình sang bên kia thế giới trong tức tưởi đớn đau, đôi mắt Ki-ki trừng trừng nhìn vào cõi thinh không…
     Chưa bao giờ tôi thấy mẹ giận dữ la mắng cậu như lần này, mẹ đấm ngực và gào lên rồi buông những lời bi thiết tắc nghẹn.
     Cậu vun rơm bên bờ ruộng khô, ánh lửa bùng lên, màu lông vàng úa cháy nám khét lẹt, con Ki-ki nhe hàm răng trắng nhởn. Cậu sai tôi chạy đi mua hai lít rượu và bánh tráng nướng, khi về đã thấy các vị “chức sắc” của hợp tác xã đang ngồi vây quanh nồi thịt chó um với dầu phụng (lạc) bốc lên mùi thơm khó tả, nước miếng tôi ứa ra. Chiếc đầu con Ki-ki đã lìa thân nằm chơ vơ trên bờ ruộng mắt đã nhắm
nghiền, mép nhếch lên nửa như giận dữ nửa như cam chịu cho số phận đời mình.
     Ông Long ngửa cổ hớp tợp rượu, triết lý:
-         Chó già cũng như thân phận lính già, buông tay súng
trở về, đời sẽ lãng quên. Nhưng chó càng sống lâu với người nó càng có nghĩa, chẳng thà để chúng chết già…
     Cậu Ban lặng thinh, tôi không nỡ trách cậu, nếu gia cảnh không nghèo túng có lẽ nào cậu hy sinh con Ki-ki, hay cậu cầu danh nhờ xác thân con chó?
-         Lý sự đếch gì, “vật dương nhơn”! Lão Dương chủ
nhiệm không khá lên nhờ chó là gì, sân sau nhà lão đủ loại chó, chó nhớn chó bé, tiệc tùng trên chó dưới chó. Từ chó mà lão đi lên…
     Trời đã sang đông, đêm nằm mẹ ho khúc khắc. Tôi thay mẹ đi dạy bổ túc văn hóa, các em học viên lẫn cán bộ xã, thôn từ xóm trên xóm dưới sau khi buông tay cái cuốc, cái liềm kéo nhau về trường học. Những cây đèn dầu hột vịt lập lòe như đom đóm, em Mi-lu chạy theo tôi và nằm nép dưới bàn nghếch mõm chờ tôi xong tiết dạy.
     Cậu Ban dạy tôi đàn guitar, cậu càng tài hoa hơn với tiếng sáo dặt dìu trong những đêm khuya vắng. Những ngón tay trái bấm hợp âm ban đầu khiến tôi tê buốt khó chịu, nhưng những nốt nhạc ngân vang và thánh thót khiến tôi say mê bên cung đàn huyền ảo. Tôi phát hiện ra em Mi-lu biết thưởng thức làn điệu du dương, đôi mắt em nhìn tôi không chớp. Một lần tôi mang đàn ra sau vườn, ngồi dưới gốc ngọc lan già, Mi-lu lặng lẽ nằm mơ màng nghe tôi chơi bài Romance – Bản tình ca muôn thuở. Mi-lu cạ mõm vào tay tôi khi nốt nhạc cuối cùng lặng dần vào không gian tỉnh mịch của buổi trưa hè.
     Mẹ giục cậu Ban lấy vợ, cậu hơn tôi mười tuổi nhưng không nhắc gì đến chuyện lứa đôi của tôi, dù tôi đã hơn hai  mươi. Người yêu của cậu đã xa vời, cô Nhung lạc mất cậu hay cậu đánh mất cô Nhung chỉ mình cậu biết.
     Ngày ngoại còn sống đã tính chuyện trăm năm cùng cô Nhung với cậu, nhưng rồi cậu bị mất tích khi không còn bao nhiêu ngày nữa lịch sử sẽ sang trang.
     Bên kia bờ đại dương, cô Nhung như bóng chim tăm cá chưa một lần về. Cậu gởi gắm vào phím đàn hay tiếng sáo  nỗi niềm riêng trong nhiều đêm thanh vắng, để bay vào hư không.
   Mẹ định mai mối chị Thuận với cậu, cậu cười khà khà:
-         Thuận đáng thương, mồ côi cả cha lẫn mẹ nhưng
nghèo quá mà chị, thân phận em lại có ra gì…
   Nói thì nói vậy, nhưng đã nhiều lần tôi bắt gặp cậu đến nhà chị Thuận, lúc thì giúp chị đánh tranh lợp lại mái nhà, lúc cậu ngồi thừ tư lự…
     Chị Thuận dạy học ở trường thôn, chị không đẹp nhưng nết na thuần hậu, nay đã lỡ thì quá lứa, chị học trên tôi ba lớp. Tôi tình cờ nghe lén mẹ ân cần khuyên cậu:
-         Thôi đành vậy, tùy cậu. Ngày xưa chị không nghe lời
mẹ, tuổi mới lớn yêu say đắm để rồi lỡ làng thân phận chị. Anh ấy cũng như Nhung, biệt vô âm tín…
     Tôi giật mình, nghĩa là cha tôi chưa chết. Ông đang lẩn khuất đâu đó trong cuộc đời này, nhưng đã bao năm mẹ vẫn mãi ôm hình bóng cũ để ngậm ngùi hay ân hận vì mối tình đã lỡ?
     Dù không “đăng ký” kết hôn nhưng cậu ra riêng, về sống với chị Thuận. Căn nhà ngói ba gian cũ kỹ và mảnh vườn  của ngoại, cậu dành cho tôi.
     Bỗng một hôm nghe tin cô Nhung về, mẹ mừng khôn xiết. Tôi ước mong những hình bóng thân yêu đã chìm vào phiêu lãng như ông bà ngoại, như cô Nhung, biết đâu cha tôi nữa bỗng hiện về bằng xương bằng thịt, không phải là mơ.
     Người đàn bà đài các ngày xưa nay đã thành nữ tu. Cô Nhung từ ngày thất lạc cậu, cô đã yêu người đàn ông khác và cô yêu say đắm. Người đàn ông thánh thiện mang tên Giê-su đã ban phép lành khoác lên cô tấm áo “ma soeur”. Tràng chuỗi Mân Côi mang ơn cứu rỗi hay tràng xích buộc chặc đời mình để cô mong quên đi hình bóng cũ?
     Nhưng không, cô vẫn để cậu Ban trong ngăn tim thầm kín của đời mình. Cách đây mười năm, từ nước ngoài về, cô đã thành lập trung tâm nuôi dạy trẻ mồ côi, cơ ngơi còn lại của cha mẹ cô ở Bình Dương. Cô chuyển giao cho cậu, ban đầu cậu không muốn tiếp nối những gì đã chìm vào quá khứ nhưng khi chứng kiến những em bé tật nguyền nhỏ dại được ân cần chăm sóc, lòng cậu dâng lên niềm cảm xúc và ngưỡng mộ vô biên tấm lòng của các Ma Soeur.
     Mẹ cũng bỏ tôi ở lại một mình đi theo cậu, chị Thuận và Soeur Nhung. Mẹ được trở về nghề cũ, hạnh phúc dâng tràn trong đôi mắt mẹ…
     Tôi vẫn mãi dõi tìm người đàn ông của đời mình. Một nơi nào đó trên thế gian này, cha có tình cờ đọc được những giòng chữ hẩm hiu này, cha hãy một lần tìm về.
     Nhà vắng, Mi-lu nghếch mõm nhìn tôi, đôi mắt buồn rười rượi…

CÁI BỚT MÀU CHU SA


   Mắt người đàn ông trắng đục trợn ngược, hai hàng lông mày “xếch” lên như lưỡi mác, tánh tình lại ngang ngược, ông Tám cụt nói mắt hắn có thần.
     Cô hai Bi nhớ đâu nói đó, rằng đêm xưa có thằng cha mặt mày bặm trợn nửa đêm gõ cửa xin trọ, cô bê cái nồi đồng có hai quai, đáy mo tròn cạo sạch cơm lẫn cháy cùng chén mắm cái thơm nồng mùi ớt xanh, mời khách.
     Khách lạ nhìn cái nồi đồng, hất hàm:
- Có mấy cái?
- Cái chi?
- Cái nồi…
     Hắn đưa mắt nhìn quanh rồi gật gù:
- Hoàn cảnh em cũng như “qua”, một thân một mình…
     Hắn bỏ lửng, nhìn lom lom vào cổ áo vải tám bạc màu lộ khuôn ngực săn chắc của cô gái dậy thì con nhà nông lam lũ, má hai Bi đỏ lựng dưới ánh sáng hắt hiu của ngọn đèn dầu. Hôm đó không hiểu sao cô đâm ra mụ mị, hắn sai biểu gì cô cũng nghe lời.
     Giữa ngực hai Bi có cái bớt màu chu sa bằng bàn tay làm nổi bật làn da trắng mịn, chiếc quần đen phai củn cởn túm thắt lưng bằng dây chuối khô bật tung, cô e thẹn nhắm mắt buông xuôi. Người đàn ông “bặm trợn” thở dài, ánh trăng mười sáu chênh chếch trên đầu ngọn tre lung linh nhuộm vàng cây cỏ, tiếng dế nỉ non mơ hồ, hương bồ kết thoang thoảng, mái tóc cô chảy dài thành dòng suối đen tuyền ôm lấy núi đồi trên khuôn ngực.
     Tự dưng đôi mắt người đàn ông buồn hiu, hắn quơ vội chiếc nồi đồng, nhổ luôn bụi sả vừa đi vừa quất vào bắp chân nghe bép bép. Cơn gió nồm mang hương sen ngan ngát từ ao làng mơn man mái tóc dài lãng tử, hắn rửa sạch chiếc nồi, khoanh tròn bó sả và ngắt hai bông sen vừa chớm nở đi lửng thửng về nhà hai Bi. Trong khi chờ nồi nước được đun sôi, hắn ôm cô vào lòng nhưng không hề nói một lời. Hắn bế cô ra bờ ao, hai Bi rùng mình khi thân thể trần truồng chạm phải làn nước mát trong veo. Đôi bàn tay hắn dịu dàng kỳ cọ khắp người, cô chưa hề có cảm giác lạ lùng như vậy bao giờ, phản xạ tự nhiên khiến cô co rúm rồi ngây người nhìn gã đàn ông. Hắn vào nhà bê ra nồi nước sả phảng phất hương sen, thêm nước hồ vào vừa đủ ấm, hắn nâng chiếc gáo dừa rót dòng nước thơm lừng lên mái tóc cô, thấm đẫm những giọt nước long lánh như pha lê rơi rụng dưới ánh trăng khuya.
     Hắn đặt cô xuống đệm rơm, những cộng rơm vàng rực dưới thân thể ngọc ngà của hai Bi. Lấy từ chiếc túi phong trần xấp lụa màu mỡ gà, loại tơ lụa Duy Xuyên, Quảng Nam mượt mà đắp lên người cô. Hắn kể cho cô nghe:
-         Cô gái họ Đoàn của làng Đông Yên, đất bãi bồi màu
mỡ chuyên trồng dâu nuôi tằm, dệt lụa. Cô hái dâu bên bờ sông chợ Củi. Trăng tròn vành vạnh, dát bạc những con sóng gợn lăn tăn của dòng sông Thu Bồn lửng lờ trôi, màu xanh của biền dâu đã thay màu áo lụa vàng ươm. Một hôm chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên (Huy Tông Hoàng Đế) tuần du, đưa thế tử Nguyễn Phúc Lan (Thần Tông Hoàng Đế) theo hộ giá. Thuyền rồng đỗ bến Điện Châu (An Phú Tây), Chúa nghe văng vẳng tiếng hát trong veo của người con gái họ Đoàn giữa ngàn dâu xanh ngát, cô được vời về cung và đã trở thành Đoàn quý phi. Nhưng ta chỉ là kẻ lang bạt kỳ hồ…
     Chiến tranh loạn lạc đã xóa nhòa di tích người xưa, nhưng cộng đồng Chăm giữ lại trên mảnh đất này những di sản quý báu còn tồn tại đến ngày nay, cây dâu tằm từ thượng nguồn đưa về trồng trên bãi bồi ven sông Thu Bồn đã mang lại cho làng tơ lụa Duy Xuyên những sản phẩm không nơi nào sánh được, dãi lụa mềm mại óng ả ươm vàng, đông ấm hè mát của một thời hoàng kim tưởng chừng như xa lắc.
     Long - người đàn ông “bặm trợn”, búng nhẹ lá thuốc đã ngã sang màu nâu đen, đôi mắt nhìn mông lung ra dòng sông đang cuộn mình với con nước đục ngầu, những ký ức thời thơ ấu cuộn về như dòng thác lũ…
     Hồn thiêng sông núi Chăm Pa với thành phố cổ Sinhapura (Trà Kiệu) – Thánh địa Mỹ Sơn với những bức phù điêu tiên nữ Apsara rêu phong cùng tuế nguyệt. Anh trầm mặc nhớ về làng Đồng Dương, xã Bình Định, Thăng Bình quê hương yêu dấu của mình… Những  hình ảnh vũ nữ Chăm-pa kiêu sa cổ xưa đã được chạm khắc vào tường tháp.
     Nhìn bóng dáng hai Bi khiến anh nhớ về mẹ - người đàn bà Chăm hiền lành suốt đời cần mẫn bên khung dệt lụa để nuôi Long nên người. Dù tục mẫu hệ của người Chăm-Pa như thác nước hùng vĩ cao vời vợi cản ngăn nhưng anh sẽ vượt qua, sẽ giữ cho thân thể hai Bi trong ngọc trắng ngà, sẽ đưa cô lên Thánh địa Mỹ Sơn khấn nguyền cùng tiên tổ, rồi về Đồng Dương ra mắt mẹ và cô sẽ sống cùng cộng đồng Chăm hiền hòa của anh.
     Gia đình Long bao đời nay vẫn cố giữ khung cửi đã thẫm màu nâu đen của số kiếp vong quốc, nhưng anh tự hào với
bộ trang phục, tập tục lâu đời và văn hóa truyền thống của Chăm-pa.
     “Thời xa xưa, chiến tranh Chiêm-Việt. Trong đám hàng binh, có nàng công chúa xinh đẹp, vua Việt bèn bắt về để làm vợ cho một vị hoàng tử, nhưng ngài hoàn toàn không biết nàng công chúa đã có thai. Khi trưởng thành, chàng trai mang dòng máu Chiêm Thành trở về làng La Huân (Điện Thọ) rồi về Đồng Dương lấy vợ sinh con đặt tên là Trà Huyền An và Trà Huyền Chơn, vì thế mới có dòng họ Trà nối nghiệp đến bây giờ”.
    Truyền thuyết xưa mãi ám ảnh, gieo vào lòng anh nỗi ray rức khôn nguôi. Dòng máu đã pha trộn chảy trong huyết quản bao đời, tạo nên hình vóc cho Long. Tiếng gà gáy trưa từ đâu đó vọng lại, bùi ngùi. Miền quê yên bình, rợp bóng tre xanh. Lời ru thiết tha, thuỷ chung theo cơn gió nồm mát rượi.
     Sự hoài niệm quá khứ bi thương và nhìn về tương lai mờ mịt, khi đã cam chịu thân phận ngụ cư trên chính đất nước mình, dù trăm năm sau nữa vẫn làm kiếp lưu đày đang đẩy dần Long đến cảnh chán chường, đôi lúc anh muốn buông xuôi theo dòng đời trôi nổi.
     Cái bớt màu chu sa của hai Bi ám ảnh Long, anh cho rằng cô là hiện thân của đức Mẫu huyền bí trong tâm linh của dân tộc anh. Một đêm kia, trăng rằm tỏa ánh sáng vàng dìu dịu trên cánh đồng lúa xanh non, anh dõi mắt nương theo bóng dáng người con gái đang bay lên, phất phơ xiêm y lụa trắng chói lòa trên nền trời. Ngọn núi Gole-Lang – Phước Sơn, mờ mờ nhô lên trên dãy Trường Sơn dưới ánh trăng đã ngả về Tây. Tiếng vó ngựa dập dồn nghe rõ dần, người tráng sĩ dừng cương đột ngột dưới chân đồi khiến con chiến mã ngẫng cao đầu hí vang trong đêm khuya thanh vắng.
-         Trời đất mang mang, hồn thiêng sông núi hãy lắng
nghe nỗi niềm bao oan hồn vất vưởng đang chìm đắm trong tang thương, trong lòng dạ bất nghĩa của con người…
     Long giật mình, khoanh tay cúi đầu chào:
-         Nhân bất đồng tâm, an phận thủ thường, mê muội.
Người từ đâu trong cõ ta bà…?
-         Vương thổ ngàn năm còn lưu dấu rêu phong, hồn tử sĩ
căm hờn nhìn lũ vong nô hèn hạ dâng dần giang sơn gấm vóc cho lũ giặc ngoại bang tàn ác…
     Tráng sĩ vung gươm, hét vang bi phẫn trong màn đêm âm u. Sương núi lan tỏa, tràn xuống chân sườn đồi như bóng dáng đoàn chiến binh kiêu hùng trong lặng lẽ, tiếng vượn hú từ rừng sâu đại ngàn mang điệu buồn vong quốc xa xôi…
     Rừng đầu nguồn chỉ còn trơ khấc những gốc cây già nua rệu rã, cơn lũ hung bạo tràn về cuốn phăng tất cả, căn nhà có bóng dáng người mẹ già nua bên khung dệt lụa của Long đã trôi theo dòng nước.
     Một đêm tối trời, Long đưa hai Bi lên ngọn đồi trọc. Những thân cây khô được chất lên thành giàn hình tháp như ngôi cửu trùng cao vòi vọi, lần đầu tiên Bi được mặc bộ đồ lụa màu mỡ gà óng ả, tóc xỏa tung bay. Cô ngồi yên, mắt nhìn lên những vì sao lấp lánh trên cao. Long kính cẩn nâng hai tay cô Bi đưa lên như cố với tới trời xanh, dâng lên nỗi niềm khắc khoải. Ngọn lửa bùng lên, những đốm sáng li ti bật ra từ cành cây khô như hoa đăng ngày hội…

TRUY SÁT



-         Hắn đó ! Bắt lấy nó…
     Đám đông như bầy sói khát máu, điên cuồng đuổi theo thằng bé gầy gò đen nhẻm, chiếc áo trắng ngả màu cháo lòng lộ ra hai cánh tay tươm máu bởi những nhát gậy không nương tay. Hình như cơn say máu càng dữ dội khi có ai đó hét lên:
-         Đập chết mẹ nó đi, bà con ơi…
     Đoàn người hò reo đồng thanh tương ứng vang lên như tiếng gầm của ác thú khiến thằng bé luống cuống, cặp chân khẳng khiu suýt quỵ xuống giữa đường, nó quay nhanh về đằng sau dừng lại như muốn buông xuôi…
     Bỗng tiếng trống tan trường dội từng hồi rồi lắng dần như âm thanh cứu rỗi, tất cả đều khựng lại. Lão Nhiếp vất cây gậy vào bụi tre, tay quệt mồ hôi nhìn vào cổng trường tiểu học, những bộ đồng phục áo trắng quần xanh xinh xắn, thơ ngây rạng rỡ cười đùa túa ra như bầy ong vỡ tổ.
     Nó không thể lẫn vào đâu được, Nó không thuộc thế giới hung bạo đằng kia đang đuổi theo bén gót, Nó cũng không thuộc thế giới trẻ thơ đang tung tăng hồn nhiên vô tư lự như những cánh hoa trắng muốt đang vây quanh tò mò nhìn nó.     
     Nó mồ côi ở với bà nội, Nó giữ bò, Nó ăn trộm con gà mái tơ nhà lão Nhiếp, nó túm được nhúm lông, con gà vẫy vùng cục ta cục tác inh ỏi, nó nhảy qua hàng rào, cái lưng lãnh trọn đầu gậy của lão Nhiếp, nó thấy tê rần như bị điểm huyệt, ngả quỵ, đòn thù tới tấp, thân phận nó kém xa con gà.
     Nội Nó rơm rớm nước mắt xót xa, xát muối vào những vết thương hằn lên trên làn da rám nắng của thân hình còm cỏi mà lòng bà đắng ngắt, có khi vì thương bà mà nó nên nông nỗi này. Nó biết nó sai rồi. Những nhát gậy, cú đá không đau lòng nó bằng lời miệt thị của đám đông kia: "Đồ ăn trộm, tổ cha thằng cháu nội mụ Tư Riêu!".
………..
     Dòng sông hiền hòa bỗng dưng cuộn trào hung dữ bởi cơn lũ đầu nguồn, cha Nó ngụp lặn bơi theo con nước đục ngầu đang gào thét, nắm tóc cứu được con Mị - cháu ngoại nhà lão Nhiếp. Cha nó đưa được Mị vào bờ, vừa buông tay liền bị gốc cây già trôi sông nhấn chìm mất xác.   
     Chuyện qua lâu rồi, ơn cứu mạng không ai còn nhắc đến, không rõ Mị còn nhớ hay quên, hơn nữa bây giờ cô ấy bị điên. Đôi khi bực quá nhà lão Nhiếp lại trách ngược, thậm chí phun ra thành lời với cô Mị:"Sao mầy không chết phứt cho rồi!". Đúng là "Cứu vật, vật trả ơn. Cứu nhơn, nhơn báo oán".
     Nội mất. Nó kéo chà tre rào kín cổng, bỏ làng đi phiêu bạt giang hồ. Nó xuống xe ngay ngả ba, vùng miền Đông đất đỏ, chỉ có những hàng cao su thẳng tắp bạt ngàn, cành lá ngã nghiêng buồn hiu trong gió…
     Nó phân vân không biết đi hướng nào, thỉnh thoảng tiếng gầm gừ của xe ô tô lên dốc và ánh đèn pha hắt bóng nó to dần lên vách gỗ của những căn nhà hai bên đường, nằm im lìm trong đêm đen. Căn chòi bán trái cây mái lợp lá buông của ai đó chỉ còn sót lại những trái chôm chôm, trái mít da đen sì, đã bị hư hỏng, Nó nuốt nước miếng, cái đói thấm dần khiến tay chân nó bủn rủn, run run bóc từng trái chôm chôm bỏ vào miệng, Nó chưa kịp nhai đã vào trong cổ, nó chưa hề biết mùi vị ngọt lịm của cây trái đặc sản miền Đông Nam Bộ. Nó leo lên sạp tre, ngủ vùi trong cơn mê mệt mỏi.
     Âm điệu lạ lùng của người đàn bà khiến Nó choàng tỉnh ngồi bật dậy, tấm đắp bằng vải dù ai đã đắp lên thân hình nó rơi xuống đất.
-          Mầy ở đâu mà ngủ ở đây, vậy con?
     Nó dụi mắt, lúng túng:
-         Tui ở Quảng Nôm (Nam), tới (đến) đây hồi phia
(khuya), chẻng (chẳng) biết đi mô (đâu)!
-         Chớ cha mẹ con đâu?
-         Tui có cha mẹ chi mô, bà nội chết rùi (rồi)…     
     Người đàn bà Nam bộ tử tế, tốt bụng cố gắng ngồi lắng nghe Nó tỏ bày bằng giọng xứ Quảng đặc trưng quê nó.
     Bà quay vào nhà đem ra cho Nó bộ đồ đã cũ:
-         Của con tao đó, mầy đi tắm rồi thay liền đi, mầy hôi
quá rồi con…
………
     Nó có bà mẹ nuôi vậy đó. Nghe bà kể hồi sắp hòa bình mà ghê, suốt từ Xuân Lộc – Long Khánh kéo dài xuống tận ngã ba Dầu Giây rồi đến tận Hố Nai, trong lô cao su dọc hai bên đường QL.1, xác chết cả dân và quân hai bên như rạ, có khi tính bằng gốc cao su. Chồng và hai đứa con bà mất xác.
     Nó phụ với bà bán trái cây, nào là chôm chôm, sầu riêng, măng cụt… đến từng bó miến từ cái thời xe đò chạy bằng than. Từng đoàn xe khách, xe tải chờ qua trạm 17 dừng trước nhà bà, có khi mỗi ngày bán được mấy tạ.
    Tâm hồn Nó lớn dần theo tình thương yêu của bà. Bà nghe ai đó nói: “Khi tặng hoa hồng cho ai, trong tay mình ắt có mùi hương”, bà tất tả chạy đi nhờ làm giấy khai sinh và xin cho Nó đi học. Chính quyền địa phương BH2 ngày ấy thật tốt với dân, chí công vô tư, tạo điều kiện, tận tình và cảm thông với hoàn cảnh bà con, dù đã hết chiến tranh nhưng họ đành lìa bỏ quê nhà, tha phương cầu thực…
     Nó “tồng ngồng” khi vào lớp một. Cô giáo cho nó làm lớp trưởng, Nó hãnh diện vì được làm Người. Mẹ nuôi đã “khai tâm” cho nó bằng những con chữ M.Í.T, C.A.O.S.U, C.H.Ô.M C.H.Ô.M…
     Mùa cây trái đã đi qua, ngoài giờ đi học Nó đi thồ lá chuối, mủ chuối bết những vết thâm đen trên nền vải treilli đã bạc màu. Mùa cao su rụng lá, vỏ hạt và những cành khô là chất đốt, hạt cao su cũng đem lại cho mẹ con nó những đồng tiền quý báu, mẹ nuôi nói để dành mua xe đạp cho Nó đi học. Ôi! Nó nhớ bánh chuối chiên của bà tám N. chiên bằng dầu hạt cao su sao mà ngon!
     Đạp chiếc xe chớm lên đỉnh dốc, Nó thầy thầy T. cố đẩy chiếc xe thồ sườn mobilette chất đầy những buồng chuối xanh um lên chiều ngược lại, mồ hôi túa ra ướt đẫm trên khuôn mặt khắc khổ của thầy. Bỗng nó lùi vội xe tránh vào bên trong vườn chuối. Nó sợ thầy “dị” với nó, làm thầy mà cũng lam lủ như nó sao được! Sau này nhắc lại, nó ân hận quá chừng!
………
     Nó tốt nghiệp trung học, thi vào cao đẳng sư phạm ĐN. Ra trường Nó được phân về dạy ở chính ngôi trường hơn năm năm trước nó từng đi học. Nhưng môi trường giáo dục bây giờ đã khác, mãnh lực kim tiền đã xô ngã bức tường mô phạm lăn chiêng. Những gì các thầy cô làm bình thường ngày trước như dạy thêm các em học hành yếu kém hay bồi dưỡng học sinh giỏi nhưng không thu học phí, bây giờ phải “xin phép” và lại thu tiền! Ra trường không được phân công, phải đi “xin” hay “mua” việc, Mùa tuyển sinh như ngày hội “cống nạp”. Nhìn đâu cũng thấy những chuyện không vui. Có phải vì “chuột chạy cùng sào, mới vào sư phạm” nên ra nông nổi này chăng?
     Mẹ nuôi đã già. Quê hương bản quán xa vời, Nó quyết định “xin” nghỉ dạy, đi làm cu…li!

HỌA VÔ ĐƠN CHÍ



     Vừa trả khách ở ngã tư Gò Mây quay xe về, mới sang bên kia đường, bỗng nhiên thằng ôn con lựu đạn chạy lạng lách như ăn cướp cúp ngang đầu xe. Tư Sanh ngã lăn quay, may không có xe to cùng chiều nhưng gãy xương bả vai trái, rạn nứt hai cái xương sườn, chiếc xe máy Wave Alpha cũ mèm để chạy xe ôm te tua.
     Đưa vô bệnh viện, soi lại thẻ bảo hiểm y tế "quá date" hơn hai tháng! Bác sĩ chẩn đoán tổn thương phần cứng, lục phủ ngũ tạng không sao, bó bột đóng nẹp cho về.
     Tiền thuốc men cộng với sửa xe bằng tiền học phí của bé Phương đầu năm học mới. Vợ tư Sanh nhìn số tiền rồi cuộn toa thuốc bằng mấy ngón tay vặn vẹo thở dài…
     Tư Sanh nói nhỏ:
     - Hạnh, về thôi em. Thầy Hai dạy võ có thuốc hay lắm, thuốc Tây ăn thua gì!
     Tự nhiên trời đổ mưa ngang xương, Hạnh lấy nón lá che cái vai của tư Sanh rồi dìu chồng vào hàng hiên. Mái tóc Hạnh ướt đẫm, nước mắt ứa ra tự lúc nào pha lẫn nước mưa nhỏ từng giọt lăn dài trên cánh tay trần của tư Sanh.
     Vừa mới gượng dậy bưng bê hủ tiếu giúp vợ được vài hôm, tư Sanh quăng luôn cái tô khi nghe bạn bé Phương chạy về báo tin:
     - Phương bị tông xe gần ngã ba bác ơi, mau lên…
     Cả xóm nhốn nháo, ăn gì cũng bỏ. Đang ngồi trên ba bánh gắn máy, năm Nghinh kéo Hạnh lên xe phóng cái ào, đến "hiện trường" Phương đã được chuyển lên bệnh viện quận…
     Năm Nghinh an ủi:
     - Cũng còn… may! Con bé chỉ bị nứt xương hàm dưới, gãy bốn cái răng, rồi nó sẽ lành lặn như xưa, không sao ... đâu. 
     Tiếng còi xe cứu thương vang lên inh ỏi gấp gáp ngoài kia, có lẽ có ca nguy cấp hơn nhiều. Bà Ba "đa hệ" cùng mấy bà hàng xóm đi như chạy vào phòng cấp cứu, nói oang oang như ở nhà bà:
     -Tao mới "huy động" được bấy nhiêu, mầy ráng lo cho con nhỏ. Mẹ nội nó! Con cháu tao đẹp gái quá mà! Tao gặp thằng tông nó tao vặn họng.
     Xóm "công viên cây xanh" không giống ai, mỗi nhà mỗi kiểu. Hơn mười năm nay cứ vậy mà ở, tường nứt cột xiêu, kệ mẹ. Tiền đâu có để dấm dúi xin phép sửa sang. Tám Lùn mới mua hai bao xi măng với hơn trăm gạch định sửa cầu tiêu, vừa nghe tiếng xe ba gác máy nổ xành xạch đầu xóm là có ngay mấy anh quản lý đô thị theo sau bén gót. Thông tin từ "cơ sở" kịp thời kịp lúc chứng cớ rành rành. Thầy Hai dạy võ vỗ cái bẹp vô đùi như sắp ra thế:
     - Bà mẹ nó, thời đại 4.0 có khác! Cầu tiêu tám Lùn xì hơi thúi hoắc cả xóm, bà tổ trưởng với mấy cậu vô ngửi dùm. May hôm nay không mưa, chớ không cứt trôi lều phều, hốt về làm phân "bắc". (Phân người tươi chưa phân hủy).
     Bà Ba "đa hệ" rít lên:
     - Tiên sư cha nó, nghe nói bỏ quy hoạch "công viên cây xanh" từ lâu, vậy mà không cho người ta sửa nhà sửa cửa. Ở quê tui, người ta xây dựng "nông thôn mới", bê tông hóa đường sá ngon lành. Khu phố "văn hóa" cái con mẹ gì mà như vầy…!
     Nói xong bà đá văng bịch nylon "cứt" xẹt qua chân bà tổ trưởng, rồi nhắc khéo:
      - Thằng tư Sanh gãy xương, con nó bể hàm. Có hội đoàn nào giúp gia đình nó không vậy cô?
     - Có ai báo gì đâu mà biết, để tui..
     Thầy Hai xen ngang:
     - Cô lấy tiền phạt sửa cầu tiêu "lậu" của tám Lùn "trợ giúp" cha con tư Sanh…
…….
     Phương bỏ học gần nửa tháng, cô chủ nhiệm "vận động" các bạn cùng lớp được hơn hai triệu cộng với phần cô, làm lại hàm răng cho con nhỏ. Mới nhập học được mấy ngày, lớp đầu cấp ba bạn lạ hoắc đâu có mấy em biết mặt Phương. 
     Gần thi học kỳ, cô chủ nhiệm không thấy Phương đến lớp. Quán hủ tiếu của mẹ em đìu hiu, con chó giật mình sủa vang khi thấy khách lạ. 
     Chuông nhà thờ lễ sớm, Hạnh ngồi bật dậy, định gọi tư Sanh nhóm bếp nhưng miệng như cấm khẩu, đôi chân tê rần, tay quờ quạng ngã lăn quay xuống sàn nhà.
   Tư Sanh hốt hoảng la làng. Thầy Hai rồi bà Ba "đa hệ" cùng cả xóm chạy sang. Thầy Hai đẩy mọi người ra ngoài lớn tiếng:
     - Để cô ấy nằm yên, bà con tránh ra để lấy ô-xy, ai có kim băng đưa tui…
     Thầy bình tỉnh lể mười đầu ngón tay, nhân trung, vuốt  hai dái tai rồi nặn ra chút máu. Hạnh tỉnh dần, mắt he hé mở…
     Thầy đứng lên thở hắt ra, rồi giảng giải như ông đốc-tờ:
     - Gọi taxi đưa đi bệnh viện. Hạnh bị tai biến, cái bịnh này vỡ động mạch não, giống như ống nước lâu ngày bị xì phải nằm yên sơ cứu đã, khi tỉnh lại mới đưa đi cấp cứu nghe bà con, động đậy là toi mạng…
     Hầu hết cư dân xóm "công viên cây xanh" định cư trể nhất cũng đã hơn mười năm. Dính cái quy hoạch "treo" đành chịu, bà Ba "đa hệ" đòi đi kiện:
     - Thành phố đã chỉ thị, dự án nào ba năm không thực hiện phải hủy bỏ, để bà con an cư lạc nghiệp. Gần hai mươi năm nay, không ra ngô ra khoai. Phải như nhà tư Sanh có giấy tờ "hợp pháp" bán cũng được bộn tiền, gia cảnh hắn như vầy tính làm sao… ?
     - Đm! Thằng "cò" hỏi mua nhà tư Sanh là em vợ thằng T. ở phòng "nhà đất" trên quận chớ đâu… tui rành quá mà!
     Năm Nghinh chạy xe như cowboy, vừa tắt máy đã nhảy phắt xuống, chạy ào vô nhà tư Sanh:
     - Đm! Mầy có biết con Phương làm gì không?
     - Thì nó đi làm tiếp thị Bia Saigon ở quán "999 Bò Tươi Củ Chi" chớ đâu!
     Năm Nghinh kéo tay áo chạm vết thương, tư Sanh la oái oái:
     - Mầy đi liền với tao, đm. nóng mắt…
    Năm Nghinh hùng hổ như đi bắt cướp, đưa cái xe vô đầu hẻm. Lần này tư Sanh kéo áo năm Nghinh:
     - Đứng yên…
     Xen lẫn trong không khí ồn ào, giọng ai đó vang lên:
"Ngỡ rằng thầm nhớ ai kia
Thấy cô áo đỏ nhớ bia Sài-gòn"
     Phương đứng đó, đôi má đỏ lựng, thân hình nhỏ nhắn của em trong bộ đồng phục tiếp thị. Tư Sanh khoác tay ra về. Năm Nghinh đạp máy nổ, mặt nghệch ra không hiểu vì sao…

BÓNG CHIỀU



-         Chào anh! Anh nhớ em không?
Tôi bối rối nhưng vội vàng đáp lễ.
-         Ngày hội Trùng Dương… Nàng nhẹ nhàng gợi ý.
     Đôi má hây hây vương vấn nắng chiều, tia mắt nàng hớn hở cười sau làn tóc rối tung bay theo gió nhẹ.
Tôi mời nàng vào cafeteria, chọn bàn khuất sau khóm trúc đào. Không cần biết tôi uống gì, nàng gọi hai ly chanh Rhum. Hôm nay nàng thật lạ, bộ trang phục lụa đen tuyền bó tròn thân hình gợi cảm, tương phản màu da trắng hồng khiến lòng tôi lâng lâng, rạo rực một điều gì khó tả.
Nàng mời tôi về nhà, con đường bê-ton nép mình dưới hai hàng cây hoa vàng anh rực sáng dưới ngọn đèn đường. Tiếng gầm lên nghe ứ nghẹn, tôi giật mình quay lui, con chó berger to lớn lông xám vàng đang chồm tới, nhưng được giữ lại bằng dây xích. Nàng ôm cổ nó vỗ về:
-         Antony, ngoan nào, bạn đó!
     Nàng đứng chắn ngang như bảo vệ, mời tôi vào phòng khách:
     - Nhà chỉ hai mẹ con, cháu vừa đi du học hơn nửa năm nay rồi, em buồn…
     Bức chân dung hai mẹ con thật đẹp, đôi mắt cô bé tròn vo như nhìn tôi nghịch ngợm, ngoài kia con Antony lại nhìn tôi cảnh giác, thỉnh thoảng nhe hai hàm răng trắng nhỡn đầy vẻ hăm dọa. Sợi xích loảng xoảng khi nó trở mình, khiến tôi có cảm giác không bình yên…
     Nàng bước ra hàng hiên, ôm vai Antony thầm thì, Antony đưa hai chân trước choàng vào cổ nàng, giọng rên lên gừ gừ nhỏng nhẻo, chiếc đầu xinh xắn của nàng lọt thỏm vào vùng ngực mạnh mẽ đầy lông vàng ươm của nó. Tôi đâm ra ngượng nghịu và ganh tị.
     Nàng nhìn tôi cười, môi dưới trề ra như giễu cợt sự nhút nhát của tôi. Nàng hình như nói với chính mình:
     - Chiều nay phải tắm cho Antony thôi, hôi quá rồi!
Nàng thoăn thoắt đi vào buồng tắm, dáng ỏng ẹo như trêu ngươi, tôi đứng lên định chào nàng rồi từ giã ra về, giọng nàng mơ hồ lẫn khuất sau chùm nước vòi sen:
     - Nếu muốn… anh cứ tự nhiên, em không giữ Antony
cho anh đâu…
     Tôi giật mình nhìn ra cửa, Antony ghếch chiếc mõm trên thềm với cặp mắt trắng dã nhìn tôi đe dọa.
Nàng là bạn “vong niên” của Julie H., chồng H. với tôi là bạn cùng khóa, nhưng anh đã xa rời nhân thế. Trong buổi dạ tiệc hôm ấy dù nàng là hoa khôi, nhí nhảnh và hồn nhiên nhưng biết thân phận mình, tôi vờ như lãng tránh.
Đêm đã về khuya, tôi lặng lẽ rời căn biệt thự xinh xắn ở ngoại ô, bỏ lại sau lưng những điệu nhạc du dương, những vòng tay quấn quýt trong không gian mờ ảo liêu trai.
……….
     - Mời anh lên sân thượng, em cho anh xem cái này…
     Tôi đứng lên bước theo nàng, mặc kệ tiếng gầm gừ của Antony. Nhìn khuôn ngực tràn trề nhựa sống và đôi mông khiêu khích, phép lịch sự tôi không thể bước sau nàng.
     Trên bệ đá trắng ngần, người nghệ sĩ điêu khắc tài hoa đã tạc thân hình vệ nữ nằm lã lơi, với chiếc eo thon cùng đôi gò bồng đảo thanh tân, mái tóc buông dài tạo thành dòng suối nên thơ róc rách chảy vào hồ bán nguyệt.
     Tôi ngẫn ngơ chiêm ngưỡng tác phẩm tuyệt bích, bao nhiêu ý nghĩ tà tâm về nàng vụt tan biến. Ngọn nến lung linh, chập chờn theo ngọn gió lay. Mùi thơm dìu dịu, thoang thoảng từ nàng khi tôi đón nhận cốc rượu vang, môi nàng hé mở:
     - Cuộc đời này không đáng yêu sao? Em nghe chị H. kể về anh, sự hoài niệm và tiếc nuối chỉ day dứt lòng người, nước ra khơi xa khó trở về nguồn…
    Vậy là nàng đã hiểu, vợ tôi mang hai con vượt biên khi tôi còn ở trong tù. Tất cả đã chết. Nếu còn… Tự nhiên tôi đâm ra khó chịu với nàng:
-         Chuyện riêng của anh. Xin lỗi em…
Trời trong xanh lấp lánh những vì sao, ánh trăng lưỡi liềm khuất sau vòm lá. Tôi bắt tay nàng:
-         Tạm biệt, hẹn ngày gặp lại…
     Nàng quay lưng ngã vào lòng tôi, sự va chạm bất ngờ khiến tôi bối rối. Da thịt nàng mát lạnh, tôi quên hết mọi sự trên đời, nàng đã trao tôi trái cấm, bản năng Ađam trong tôi bùng lên dữ dội, đôi môi ham hố lướt trên má trên môi nàng, thân hình diễm tuyệt không xiêm y lồ lộ… Nhưng đôi mắt phản chiếu ánh trăng khuya dưới kia của Antony như hai ngọn đèn pha nhỏ xíu xanh lè, kèm theo tiếng rên hư hử của nó khiến tôi bừng tỉnh cơn mê.
Nàng ngỡ ngàng ngữa mặt nhìn tôi, thở dài:
-         Chuyện gì vậy anh? Đêm nay hãy ở lại cùng em…
…….
     Ra trường tôi cùng Hưng – hôn phu của H. tân đáo về Năm Căn nhưng khác đơn vị, căn cứ đìu hiu bên con sông Bồ Đề.
     Hưng đẹp trai, phong lưu nho nhã còn tôi da ngăm đen như mọi núi, H. đẹp và mộc mạc như bông hoa rừng tràm. Gia đình nàng gốc người Hoa, có mười lò hầm than đước ở Năm Căn và nhiều hàng đáy trên sông Cửa Lớn. Mỗi dịp hè nàng từ Cà Mau về nhà ở chợ Hàm Rồng. Duyên tình của Hưng và nàng tình cờ nhưng quay cuồng như sóng nước mênh mông ở cửa Bồ Đề…
     Ngày ấy, tôi “khù khờ” không biết nhậu nhưng Hưng thứ gì cũng biết. Năm Căn - vùng “xôi đậu”, chưa bao giờ chúng tôi dám ở lại nhà nàng qua đêm, nhưng rượu vào Hưng đâm liều lại thêm lời khích tướng của H.:
“Chim quyên xuống đất ăn trùn
Anh hùng lỡ vận lên nguồn đốt than
Đốt than thì phải sàng than
Làm sao đừng để lấm gan anh hùng”
(ca dao)
     Noel năm 73, phi đạo dã chiến căn cứ Năm Căn chìm trong cơn mưa cuối mùa, gia đình Hưng theo chuyến bay Caribou từ Saigon xuống bàn chuyện hôn lễ của Hưng và H., chàng phụ rể bất đắc dĩ là tôi cùng đoàn nhà trai mang lễ vật đến nhà nàng.
     Sau ngày chạm ngõ không lâu, chuyến hải hành cuối cùng trong khi chờ phương tiện về phép để chuẩn bị thành hôn, duyên tốc đỉnh (PCF - Patrol Craft Fast) bị vướng thủy lôi, mang theo hình hài của Hưng cùng thủy thủ đoàn chìm sâu vào lòng sông Cửa Lớn, gần ngã ba Tam Giang.
……..
     Sau hơn hai mươi năm, lênh đênh thăng trầm theo cuộc sống, từ vùng đất cao nguyên tôi lần về Saigon tìm đến nhà Hưng. Mẹ anh đã mất, nhưng bất ngờ tôi gặp lại H., tôi không còn nhận ra nét kiêu sa của cô nữ sinh nhí nhảnh ngày nào. Sau ngày đất nước sang trang, nàng theo gia đình về HongKong rồi sau đó định cư ở Hoa Kỳ, nhưng nàng mãi vò võ cô đơn với hình bóng của Hưng.
     Nàng thì thầm:
-         Đợt trước em về, mẹ và em tìm đến Nghĩa Trang
Quân Đội Biên Hòa, đưa hài cốt Hưng về quê nội của anh ấy ở Mỹ Tho…
     Tôi không còn tin trên đời này còn có sự thủy chung, nhưng nhìn vào mắt Julie H. niềm u uẩn vời vợi, có thể hình bóng Hưng khó thể phai nhòa trong tâm trí H.
-         “Liệt nữ bất sự nhị phu” phải không anh? Em không
là “liệt nữ”. Đơn giản với em, khó có ai thay thế anh Hưng trong lòng em. Dù em chưa được làm dâu một ngày, nhưng những người thân còn lại của anh ấy là cật ruột của em, vậy thôi!
     Tôi liên tưởng đến hoàn cảnh của mình, vợ con tôi ở phương trời nào xa ngái, còn sống hay đã chết? Vì sao không đợi tôi về…?
..........
     Điện thoại của Nàng:
-         Antony đã… chết. Nó không chịu ăn uống gì anh ơi! Đến với em, nhanh lên…
     Antony gầy nhom, đôi mắt mở trừng trừng trông tàn tạ lạ thường, khác hẳn ngày đầu tôi nhìn phát khiếp. Antony đã ở bên nàng từ ngày Q. bỏ mẹ con nàng sang bến khác.
    Tôi đến nhà nàng, người mở cửa lại là Julie H., nàng nhìn tôi mỉm cười, nhưng ánh mắt buồn hiu:
-         Anh biết không, em đã đưa Antony về đây với Nhung
từ ngày nó còn bé tí, thấm thoát cũng đã gần mười năm. Antony có nghĩa lắm anh, hình như nó có ý thức được chia sẻ buồn vui cùng chủ và cố làm tròn bổn phận bảo vệ hai mẹ con Nhung…
     Nếu tôi tỏ ra thân thiện với Antony ngay từ những ngày đầu, biết đâu Antony sẽ không buồn… Từ ngày tôi có Nhung, nàng đã vì tôi say men tình muộn, có lúc ngao du đâu đó quên mất đường về, Antony đôi khi bị bỏ đói và không được chăm sóc đúng mức, nhìn xác thân tiều tụy của nó, tôi càng ân hận khôn nguôi.
     Nhung lại càng buồn và ray rứt hơn tôi. Julie H. an ủi và đề nghị:
-         Mình sẽ "an táng" Antony tại vườn hoa trong biệt thự
của em. Sẽ xây mộ và tạc tượng Antony để khi bé Phương về còn nhìn thấy nó…
     Nhung muốn tôi bán cơ ngơi nhỏ bé gồm mấy sào cafe và tiêu trên Daklak để về đây sống chung cùng nàng, hơn nữa công ty xuất nhập khẩu của Julie H. đang cần người.
     Tôi thầm nhủ: "Một thân một mình sống đâu chẳng được!". Nhưng nhớ những ngày phiêu bạt lạc bước lên Tây nguyên rừng xanh gió núi, đôi mắt dại khờ, da đen nhẻm, chân trần của những em bé Rha-đê đã níu chân tôi dừng lại chốn này.
    Tôi dạy các em từng con chữ, ê a những buổi trưa hè, rộn rã tiếng cười dân ca lạ lẫm miền xuôi, ngược lại các em ngâm cho tôi nghe trường ca, tiếng cồng chiêng rộn rã núi rừng bên bếp lửa bập bùng cùng điệu múa nhịp nhàng nhưng gợi cảm của truyền thống Ê Đê.
     Sau ngày giỗ của Hưng, tôi về lại Tây Nguyên, không giã từ Nhung và cả Julie H.
     Rừng xưa chưa khép bước tôi về...

TRĂNG TREO MÁI LÁ

Tôi đi loanh quanh vì không biết đường, vác trên vai bao tải nặng trịch. Bỗng nhiên cô gái từ trong nhà bước ra chận đường: - Anh tìm ai mà...