Thứ Sáu, 9 tháng 9, 2022

ĐÔI DÒNG

 Chú Dũng ôm tập vở, ngồi lắng nghe tiếng kinh tụng đều đều phát ra từ chiếc loa gắn trên cổng tam quan chùa Thiên Vân Tự, thỉnh thoảng tiếng chuông bon làm chú giật mình.

....
Người đàn bà đẻ rơi và cuộn đứa con mình trong bốn trang báo lớn, lảo đảo bước đi không hề ngoảnh lại, đứa bé được vợ thầy giáo Sinh cắt rốn và cho bú mớm. Gia cảnh thầy nghèo túng đông con, khi chú được bảy tuổi thầy giáo Sinh đưa vào chùa ăn nhờ cơm Phật, thọ giới Sa-di.
Xong tiểu học, chú đã thuộc lòng kinh kệ. Thầy trụ trì ngạc nhiên và thầm khen sự thông minh của chú, ngoài học văn hóa chú được thầy cho học thêm ngoại ngữ và võ thuật. Sự sinh hoạt lẫn lộn đạo, đời khiến chú ngộ ra nhiều điều.
Người mệnh phụ sang trọng bước ra từ chiếc xe hơi màu bạc, lấy từ trong giỏ chiếc áo lam khoác vội vào người, xăm xăm bước lên chánh điện. Chú Dũng chắp tay cúi đầu chào, chú gõ chuông để bà lễ Phật, đồng thời cũng là tín hiệu báo sư phụ có khách.
Đôi mắt bà lim dim cầu khấn điều gì, chú không nghe rõ. Chỉ nghe “Nam Mô A Di Đà Phật” liên hồi, bà quỳ xuống ngước mặt nhìn đấng chí tôn với lòng thành kính vô biên.
Tiếng chào “A Di Đà Phật” của thầy trụ trì khiến bà quay lại, chú Dũng nhìn thấy sự thảng thốt trong đôi mắt và bà vội vàng quay lui, không chào từ giã thầy như những thiện nam, tín nữ vào chùa.
Chú bước vào hậu liêu, lòng bâng khuâng không hiểu việc gì vừa xãy ra. Thầy đang quỳ trì chú và niệm Phật, có lẽ mong tiêu trừ khổ nạn, chướng ngại trên con đường đạo hạnh của thầy.
Mười năm về trước, thầy qui cố hương với mảnh bằng tiến sĩ “Triết học Đông Phương”. Thầy say mê khám phá kinh tạng Nikàya Pàli và A-hàm thuộc Phật giáo truyền thống, những gì đức Phật đã dạy suốt 45 năm truyền giáo, gồm những giáo lý căn bản như Tứ Diệu đế, Duyên khởi, Vô ngã…
Thầy được Thượng tọa Thích Như Tuệ trụ trì chùa Thiên Vân Tự nhận làm đệ tử và xuất gia từ đó.
Chú lặng lẽ quỳ sau lưng Thầy, tiếng mõ nhẹ nhàng thanh thoát đưa tâm hồn chú phiêu linh, chú nghe tiếng gọi từ cõi mơ hồ, một giọng nữ ngân vang:
- Hãy theo ta! Nơi của con không ở chốn này...
Chú như mộng du lùi dần ra cửa, chú bước theo vầng sáng lung linh xoáy tròn giữa hai con mắt. Chú chạy băng băng qua rừng bạch đàn sau chùa, đường mòn như có lân tinh sáng màu trăng, trải vàng phía trước. Người mệnh phụ ban chiều như sương như khói, đưa tay vẫy, chú bước càng nhanh. Con sông lấp lánh, gợn sóng lăn tăn, ánh lên màu bạc. Mặt nước rẽ đôi, chú lầm lũi bước theo vầng sáng ma mị.
Chú Dũng nghe nhiều giọng rất trẻ, gào lên than van nhớ mẹ, họ đã chết khi chưa đủ lớn nay thành hồn ma bóng quế, sống vất vưởng không nơi nương tựa. Họ chỉ còn biết ngưỡng vọng tôn thờ Tam tòa Thánh Mẫu, họ nương theo để hưởng chút hương hoa ngày vía.
Thầy Thích Như Tuệ đã viên tịch, hệ thống chùa chiền bị phân hóa, quan niệm “Tôn giáo phi chính trị” đã lỗi thời, người đời không còn nơi bám víu. Phật, Chúa và Thượng đế mơ hồ, đức tin chỉ còn trong lòng những người hiền lương nhưng khốn khó.
Mẫu Thượng Ngàn rùng mình khi nhìn những khuôn mặt nung núc phủ phê no đầy, đang lim dim tụng kinh ê a mà đạo hạnh buông thả theo dục vọng đời thường.
Tiếng trống cầm canh mơ hồ đội về từ cõi thiên thai hay địa ngục, những cô hồn lầm lũi cúi đầu đi về nơi họ đã nằm xuống: Rừng sâu núi thẵm, sông rạch ao hồ, trên những con đường gồ ghề đầy vết đạn bom hay trên đồi cao mịt mù sương khói...
Lời cầu siêu nào dành cho những oan hồn vô danh tính? Nếu đời không còn chân, thiện, mỹ sẽ đưa ta đến chốn trầm luân. Sự dốt nát dễ bị lừa mị nhưng cũng dễ ngộ ra chân lý, khi không còn niềm tin.
………
Người mệnh phụ sang trọng kia vẫn không quên được tình yêu thánh thiện của mình, càng không thể quên nên nỗi oán thù càng dậy sóng đeo đẳng theo bà. Đôi khi bà tự vấn lòng mình và lặng người nghiền ngẫm chân lý muôn đời, sự hiễn linh đã minh định:“Khổ hải mang mang/ Hồi đầu thị ngạn”(Biển khổ mang mang/ Quay đầu lại là bờ).
Đã biết vậy, nhưng lòng tiếc nuối khôn nguôi những ngày thơ mộng đầu đời. Oan gia cho bà gặp lại người xưa nay thay hình đổi dạng, sự ân hận và quay về bến giác của người có chuộc lại lỗi lầm đã đẩy đưa bước chân bà đến chốn khổ đau và bà có ray rức khi quay lưng với giọt máu của mình vì sự hào nhoáng của gia đình danh gia vọng tộc?
Sự sang trọng và nét đẹp quý phái kia không mang lại niềm an lạc cho bà, tất cả vật chất trên đời, lầu son gác tía chỉ là mảnh phù vân, chỉ có tình yêu trong bà là vĩnh cửu. Khi chạm mặt, lòng bà dâng lên niềm ai oán nhưng bà đành lòng quay lưng.
Thầy trụ trì lim dim lần tràng hạt, tiếng chuông chùa ngân vang trong không gian tịch mịch, nắng chiều còn sót lại những tia nắng vàng chói xuyên qua tàn cây kẽ lá đồi thông, như ánh hào quang từ cõi Tây phương cực lạc. Thầy thở dài nhớ về mối tình trong tuyệt vọng năm xưa, chàng sinh viên nghèo đã gieo vào lòng cô tiểu thư khuê các niềm tin yêu và ngưỡng mộ, nhưng không hề biết đã để lại trong cô một sinh linh đã tượng hình khốn khổ trên thế gian này.
Chú Dũng quay về, màn đêm tím sẩm, ánh trăng lưỡi liềm và những vì sao long lanh soi sáng lối mòn giữa rừng bạch đàn, thấp thoáng bóng dáng ngôi chùa Thiên Vân Tự lúc ẩn lúc hiện trong sương. Người đàn bà sang trọng như có ma lực, hình ảnh của bà không hề rời khỏi tâm trí của chú.
Chú nhớ lời Phật dạy: “Nếu không nợ nhau, làm sao gặp gỡ”. Người tình kiếp này là vợ chồng kiếp trước, nối tiếp phần duyên phận chưa dứt. Hồng nhan tri kỷ của kiếp này, là anh em kiếp trước, sẻ chia cho hết nợ. Nhân quả luân hồi, duyên nợ tiền kiếp khiến chú gặp lại bà nhưng duyên khởi chưa tàn, chỉ là số kiếp mà thôi!
Đứa con trai oan nghiệt bà đã bỏ lại trước cổng nhà vị cư sĩ năm xưa, nay đã theo bước chân tu hành của người cha, vị đại đức đạo hạnh đáng kính trong ngôi chùa thâm nghiêm kia.
Chú Dũng dừng chân giữa mênh mông sóng nước tách đôi dòng, những vì tinh tú lấp lánh diệu ảo Tây phương thấp thoáng hào quang đức Thế tôn từ bi, độ lượng. Dòng bên kia, những lâu đài điện ngọc lơ lửng trong chín tầng mây, sương mù giăng kín lối, lập lòe ánh đuốc ma trơi, lũ quỷ sứ nhởn nhơ hát vang bài ca ngày tận thế.
Chúng bóc trần những linh hồn khô máu, đày đọa đến tứ cố vô thân những oan hồn rách nát. Chúng sống bê tha như loài không tri giác, để lãng quên nỗi khổ làm người hay cố quên thân phận ngu si, lầm đường lạc lối của mình?
Nguyễn Châu
(Trích tập truyện Đôi Dòng)

NIỀM TIN

 “Tưởng giếng sâu anh nối sợi dây dài
Ngờ đâu giếng cạn anh tiếc hoài sợi dây”
Ai không trong đời, ít nhất một lần đặt trọn niềm tin. Sự thất vọng cay xé lòng người hơn tất cả, thà vô vọng để biết mình không thể. Nhưng đây…
Hắn thật thà, gốc con nhà chân chất, ông nội hắn là thầy ông Ba. Nhớ nghĩa cũ tình xưa, ông Ba sắp xếp cho nó làm bảo vệ công trường, khi sa cơ thất thế.
Hắn ăn cắp vật liệu xây dựng, cũng là chuyện nhỏ. Nhưng đau lòng vì hắn ăn cắp niềm tin của ông. Lại thêm bà Ba cằn nhằn:“- Tui đã nói, ông không tin!”.
Ông thẩn thờ, không lẽ đuổi nó. Rồi nó sẽ đi về đâu? Ông Ba là bạn thâm tình với ông Hân - cha nó một thời. Hân đã mất xác tại chiến trường Quảng Trị, khi nó còn trong bụng mẹ.
Ông Ba dự định sẽ tạo điều kiện tốt hơn cho nó, nhưng học vấn của nó không đầu không đuôi. Vợ đang bụng mang dạ chữa.
Nó không chờ ai nói đến, hắn bỏ công trường, chỉ để lại vài dòng nguệch ngoạc:"Con đã về quê!"
Ông Ba về quê tìm nó, hắn lại không về. Ông Ba nhìn mẹ hắn, đầu tắt mặt tối, da đen sạm trên đồng ruộng nắng cháy. Hắn đi đâu?
Lòng ông Ba ray rức khôn nguôi, ông cảm thấy có lỗi vô vàn với vong linh cha nó. Bà Hân lấy khăn chặm mắt, không nói lời nào, lại khiến ông càng thêm xót xa, ân hận.
Hồi đó, gia cảnh ông thiếu trước hụt sau, ngày đêm đạp xe cyclo mỏi nhừ, không đủ cơm cháo cho hai đứa con ông. Lấy gì…
Có ai đã nói với ông, sự thành đạt bao gồm năm nhóm M: Minh mẫn, Mạnh mẽ, Mềm mại, Mưu mẹo và May mắn. Có lẽ nó thiếu may mắn hơn ông.
Vì quá tin yêu, ông đặt trọn niềm hy vọng lớn lao vào nó, một mai sẽ rạng rỡ tông môn, không hổ danh đấng sinh thành và gia phong mẫu mực.
Nghĩ về mình, ông cũng chưa làm tròn tình sư môn, bằng hữu. Niềm tin nơi chính ông còn chuyển biến, lung lay theo thời thế nổi trôi, huống hồ gì nó?
Ông Ba sực nhớ chuyện Án Anh đi sứ nước Sở: “Giống quýt Giang Nam vốn ngọt, trồng ở Giang Bắc thì chua. Đấy là do thổ nhưỡng chứ nào phải tại giống?”
Nguyễn Châu

EM MÈO TAM THỂ MẸ

    Trời không mưa. Sầu riêng, chôm chôm gần hết mùa chỉ còn trơ cành. Vườn im ắng không nghe tiếng ve kêu râm ran như những mùa xưa cũ.

Vòi nước bung mạnh thành tia vọt xa qua bên kia, nơi có bụi nghệ rậm lá xen lẫn hoa lài, bỗng con mèo tam thể hoang nhảy vọt qua, lủi thật nhanh qua hàng rào dăm bụt mất hút.
Tôi ngồi dựa vào gốc cây mận trải đầy bóng mát dưới ánh nắng chói chang. Lấy điếu thuốc, bật lửa, những vòng tròn lơ lững nhạt nhòa dần, bay theo cơn gió. Tôi lắng tai nghe, hình như có tiếng meo meo nho nhỏ đâu đó...
Những giọt nước trên cành lá phản chiếu ánh mặt trời long lanh như cầu vồng mỏng manh, tan biến.
Bụi hoa lài trổ bông trắng muốt, tỏa hương thoang thoảng. Tôi định hái vài chùm, lát nữa đây nàng đến tôi sẽ cài lên mái tóc nàng. Tiếng meo meo lại càng nghe rõ, vạch khóm nghệ nhìn vào. Ôi! Bốn con mèo con ướt nhẹp, bùn đất đỏ bám đầy từ chân lên đầu nhìn tôi cảnh giác, đưa chân ra như muốn chống lại, có con chồm lên sẳn sàng đối phó. Tôi cẩn thận lấy găng tay đeo vào, bắt từng con bỏ vào xô nhựa. Vắt khô nước chiếc khăn, tôi lau sạch từng con. Mỗi con một màu thật ngộ nghĩnh, mèo mướp, mèo vàng, mèo đen, đặc biệt con mèo tam thể rất đẹp. Bọn chúm gờm gờm nhìn tôi như kẻ thù. Tôi chọn nơi khô ráo và kín đáo sau mái hiên nhà, tôi chỉ sợ mèo mẹ ngữi có hơi người sẽ tha con đi mất.
Tôi lìa quê hương tìm về đây sau ngày tàn cuộc chiến. Cha mẹ tôi mất sớm, bà ngoại nuôi tôi khôn lớn. Nhưng khi tôi về, sau mấy năm tù tội bà cũng không còn. Tôi theo Hưng, bạn cùng khóa về nơi đây, phát hoang lập mảnh vườn trồng cây trái ở gần ngã ba Hiếu Liêm, đường về thị trấn Tân Uyên. Đôi khi tôi nghĩ cũng lạ, hòa bình rồi chúng tôi lại đến đây, chiến khu D. của một thời máu lửa. Thế hệ chúng tôi, biết bao người ở cả hai miền Nam, Bắc đã nằm lại nơi này. Túp lều mái lá và hai con chó đã cùng tôi sớm tối với khu vườn, vui buồn chỉ có ánh trăng.
Hôm nay nàng không đến, chùm hoa lài đã héo, mùi hương cũng bay theo gió. Tôi sực nhớ bầy mèo con, nép mình bước đi nhè nhẹ, tôi nhìn mèo mẹ đang liếm lông các con âu yếm, nằm khoanh tròn trong chiếc ổ lá đơn sơ cho con bú, những cặp mắt mèo con nhắm nghiền đang say sưa với dòng sữa mẹ.
Tôi nhóm bếp nướng và xé nhỏ con cá khô cuối cùng định dành cho bữa chiều, trộn chung với ít cơm còn sót ở đáy nồi đem ra cho mèo mẹ. Vừa thấy tôi, mèo mẹ vụt chồm lên sợ hãi, nhảy qua chân tôi mất hút, lũ mèo con cũng tự động dồn vào một góc, con mèo con tam thể đứng lên nhe răng nhìn tôi gừ gừ, dữ tợn.
"Mình chăm sóc tử tế với mèo mẹ, nó sẽ ở lại với mình...!" Tôi tự nhủ lòng.
Mèo mẹ không bỏ ổ và tha con đi như người ta thường nói, hay nó và tôi đồng cảnh tương lân? Tôi cũng mồ côi trơ trọi không nhà! Nhưng chúng nó hạnh phúc hơn tôi, ít ra cũng có mẹ có con.
Tiếng xe đạp lạo xạo trên con đường đầy đất đá vụn vào vườn. Nàng hiện ra tươi rói dưới vành nón nghiêng nghiêng. Nàng lấy chiếc giỏ lát đưa qua đưa lại, nhìn tôi kèm với nụ cười, đôi má hồng lên trong nắng:
- Đố anh trong giỏ có gì? Cho đã thèm luôn...
- Thuốc lá, cà phê... và rượu!
Món ruột mà, lần nào nàng lại không đem đến. Nhưng lần này tôi thua. Chỉ có đĩa xôi đậu xanh, tô chè và con gà luộc vàng ươm...
- Anh không nhớ hôm nay ngày gì à? Giỗ mẹ đó!
Tôi bất ngờ, tôi đã quen tính ngày tháng bằng vết cứa trên cây cột mỗi mùa trăng. Mẹ tôi mất đúng vào ngày 20.7, ngày chia đôi đất nước mà tôi không nhớ (lâu nay tôi dùng ngày dương lịch). Nàng lau sạch chiếc bàn bằng gỗ thông, lấy từ pallet, dọn lên có cả hai cây đèn cầy và chiếc lon sữa bò đựng gạo, thắp nhang. Rượu đã hết từ hôm trước, nàng nhìn tôi như ngầm trách móc. Tôi nhìn lên hàng cây, lá reo trong gió thì thầm:
- Không em, anh buồn... (Hy vọng lần sau nàng sẽ mua rượu nhiều hơn)
Nàng lấy từ đáy giỏ chai rượu nút bằng lá chuối, sủi bọt rót vào ly. Tôi thắp nhang khấn mẹ, mẹ bỏ tôi đi khi tôi chưa nhìn rõ mặt. Hôm nay mẹ có về... ?
Tôi sực nhớ bầy mèo. Chờ nàng chắp tay lâm râm khấn vái xong, tôi thì thầm:
- Có mẹ rồi, đi theo anh...
Nàng ngạc nhiên khi trông thấy mèo mẹ đứng lên, cong lưng thủ thế. Tôi xoa nhẹ đầu mèo mẹ, lũ con đã quen hơi người không còn nhe răng, trợn mắt. Nàng bế từng con lên tay, áp vào bầu ngực âu yếm. Tôi nói bâng quơ:
- Nơi đó không phải của mèo!
Nàng thẹn thùng buông rơi mèo con, nó đưa cặp mặt tròn vo nhìn nàng.
Khi vắng nàng, tôi sẽ có niềm vui, lũ mèo con. Nhìn chúng hồn nhiên nhảy nhót, đùa vui rượt chạy khắp sân, đôi lúc vật nhau hay thu mình bò chậm rãi tập bắt mồi trông thật vui mắt.
Mỗi lần tôi meo meo gọi cho ăn, cả mẹ lẫn con tụ về, nằm mọp ngoan ngoãn nhìn đĩa thức ăn trên tay tôi háo hức, những cặp mắt tròn xoe, sáng trong như bầu trời thu nhỏ, nhưng hôm nay vắng mèo mẹ.
Suốt ngày hôm sau không thấy bóng dáng của nó, tôi bồn chồn lo lắng. Những người dân nơi đây đi nương rẫy, thỉnh thoảng còn bị chết hay thương tật vì bom mìn thời chiến tranh sót lại. Ngược lại, họ cũng mưu sinh bằng nghề săn, bẫy thú rừng. Có khi nào em mèo tam thể mẹ của tôi...
Tôi nôn nao âu lo, đàn mèo con vẫn nô đùa, ăn no lại vô tư thoải mái nằm ngủ.
Rừng mênh mông, vườn cây trái bao la, tôi thấp thỏm thầm mong em mèo tam thể mẹ trở về nhưng nó vẫn không về hay đi tìm mèo đực bỏ con? Không đời nào, mèo không phải là người.
Lũ mèo con có lẽ nhớ mẹ, mỗi con nằm mỗi góc, không nô đùa, nhảy nhót như thường ngày. Tôi liên tưởng đến thân phận mất mẹ của tôi ngày xưa, lòng dâng lên nỗi ngậm ngùi, ứa nước mắt.
Tôi đạp xe đi hỏi thăm mấy chủ vườn lân cận nhưng không nhận được tín hiệu gì về em mèo tam thể mẹ của tôi.
Mồ hôi ướt đẫm thấm môi tôi mặn chát, đột nhiên có một con mèo chạy vụt qua, tim tôi đập rộn ràng muốn nhảy ra khỏi lồng ngực, tôi dựa xe đạp vào gốc cây bên đường, ngồi thở dốc... nhưng con mèo vừa chạy qua màu vàng, không phải em mèo mẹ tam thể của tôi.
Nguyễn Châu

DĨ VÃNG

 Mời đọc truyện ngắn: "Dĩ Vãng" trên tạp chí NON NƯỚC số 294 (8.2022)
......
DĨ VÃNG
Trong làng không biết ông nào hơn ông nào. Ông Chánh Hai chê Hương quản chỉ là chức mua, ra làng đứng xớ rớ, đâu dám ngồi chiếu. Mấy cụ tiên chỉ ho một tiếng là dạ dạ như hát bội.
Trên hết là Hương cả, Hương chủ. Còn lại là Hương sư, Hương trưởng, Hương chánh, Hương giáo, Hương quản, Hương bộ (hay Thủ bộ), Hương thân, Xã trưởng hoặc Thôn trưởng, Hương hào.
Hương quản Hào chịu trách nhiệm duy trì trật tự trị an, cùng với đám Hương thân, Hương hào. Hương quản trực tiếp chỉ đạo Hương tuần, Cai tuần, Cai thị, Cai thôn, Trùm và Trương, những người có quyền hạn như an ninh, cảnh sát.
Xóm trên có ông Thầy Kinh. Thầy Kinh tu tại gia, được mời đi cúng khắp làng kiêm luôn thầy địa lý. Ông Cai Tổng Thìn, ông Lý Cát, ông Lê về hưu được thăng tòng bát phẩm nên gọi là Bát Lê.
Ông Cử Hoành được trọng vọng hơn cả. Ông không ra làm quan, nại cớ cha mẹ già. Học trò ông có người là ông Đốc, ông Tú, ông Nghè.
Cai tổng Thìn nhìn quanh, lác đác có mấy vị khăn đóng áo dài the đen, dù cặp nách vừa đến cổng đình.
Lễ Kỳ yên năm nay được tổ chức ba ngày. Ngày lễ cũng là dịp cho các bà nấu xôi, làm bánh, chưng hoa quả. Nữ công gia chánh được thi tài. Tiếng trống giục giã đã mấy hồi
Lễ Kỳ yên có nghĩa là lễ cầu an, tế thần Thành hoàng. Năm nay mùa màng thất bát, các cụ tổ chức lễ Kỳ yên cầu cho mưa thuận gió hòa, quốc thái dân an.
Chánh tế là cụ Cử Hoành, phụ tế có ông Bát Lê và Cai tổng Thìn. Bỗng ngoài cổng xôn xao, ông Nghè Tân thong thả bước vào cúi đầu, khoanh tay chào các cụ. Ông Nghè Tân được bổ nhiệm làm đốc học, quan đốc học có hàm chánh ngũ phẩm. Cao hơn quan phủ, quan huyện chỉ có hàm lục phẩm.
Quay sang ông Cử Hoành, ông Nghè Tân trịnh trọng:
- Thưa thầy, con luôn kính nhớ đến thầy. Có lẽ con sắp xa thầy, phải ra kinh sư.
Ông cử Hoành vuốt chòm râu bạc, cười rạng rỡ:
- Đỉnh vinh hoa thấp thoáng. Nguyện cầu anh linh tổ tông độ trì cho phượng hoàng tung cánh bay cao bay xa...
Ba hồi trống vang dội, khai trương mùa lễ hội. Lời văn tế nghiêm cẩn, dâng lòng thành của dân làng đến Thành Hoàng bổn xứ. Bóng mát từ cây đa trước sân đình tỏa rộng, như chở che và ban cho niềm an lạc.
Bỗng Hương Hào la to:
- Quới làng! Quới làng… Con hai Môn té giếng !
Bà con chộn rộn, ngơ ngác làm kinh động đến sự thiêng liêng khi đang hành lễ. Giếng sâu mấy chục sải tay, thằng nhỏ chắc chết!
Hai Môn đứng bật dây như lò xo. Giếng cách cổng đình hơn trăm mét. Lòng giếng xây bằng đá tổ ong xanh rêu, dương xỉ bám quanh tự lâu đời.
Ông Cử Hoành thở dài. Lòng thành dâng lời cầu an, nhưng Thành Hoàng cũng báo cho điềm xấu. Rồi đây nhân tâm ly tán, ông nhìn bầu trời trong xanh không gợn chút mây, nhưng phương đông ững lên vầng ráng đỏ, báo hiệu thiên tai hạn hán. Nạn đói sẽ hoành hành nơi làng quê quạnh quẽ này thôi.
Nghe đâu Nghè Tân không ra kinh sư. Ông Nghè đã rũ áo từ quan, đi làm quốc sự.
.....
Ông Nghè Tân đã theo cụ Hường. Phong trào Cần Vương như lửa cháy, nhiệt huyết yêu nước như vết dầu loang. Sĩ phu từ Bắc tới Nam hừng hực lòng ái quốc dâng trào...
Vậy mà cả đàm chức sắc Hương hội cứ ham ăn nhậu, “một miếng giữa làng, bằng một sàng xó bếp”. Hương quản Hào nghênh ngang dọa nạt, sưu cao thuế nặng dân làng không có để nộp, hắn bắt gà bắt vịt thậm chí bắt luôn mấy con heo sữa. Hắn phạt vạ, sưu thuế vẫn hoàn sưu thuế.
Con hai Môn chết thật! Tuổi mười ba như con nhái bén, như con chàng hiu, nhảy một phát không biết đến đâu, vẫn cứ nhảy.
Hai Môn bó chiếu, lèo tèo mấy người vác cuốc theo sau. Hai Môn là dân ngụ cư, đâu có hộ khẩu, thuế thân còn nợ. Ai thương?
Ông Cử Hoành nghe học trò mình theo chí cụ Hường Hiệu. Lòng phơi phới, không thẹn với đất trời. Môn sinh theo đạo lý, nghĩa là giúp mang nghĩa cả của thầy. Ông Cử Hoành hứng chí ngâm nga:
NAM PHƯƠNG CA KHÚC
"Trượng phu sinh bất năng phi can chiết hạm, vị thế phù cương thường.
Tiêu dao tứ hải, hồ vị hồ thử hương.
Hồi đầu nam vọng mạc vô cực hề, thiên vân nhất sắc đồ thương thương.
Lập công bất thành, học bất tựu, thiếu tráng hữu cơ thần hề, toạ thị bách niên thân thế khu âm dương.
Phủ chưởng cuồng ca vấn tư thế, mang mang thiên địa, an đắc tri nhất tri kỷ hề, thí lai đối chước hữu dư trường.
Dư trường trịch hướng đông minh thủy, đông minh chi thủy vạn đội khởi cuồng lan.
Dư trường trịch hướng tây sơn vũ, tây sơn chi vũ nhất trận hà uông dương.
Dư trường trịch hướng bắc phong khứ, bắc phong dương sa tẩu thạch phi thù phương.
Dư trường trịch hướng nam thiên vụ, vụ trung hữu nhân khai khẩu nhất ẩm cừ nhiên tuý.
Thiên địa vũ trụ hỗn tương vong, dư bất tuý hĩ, dư hành dư chí.
Nam nhi tự cổ sự tang bồng, hà tất cùng sầu khấp phần tử".
Dịch nghĩa
Kẻ trượng phu sống mà không vạch gan, bẻ cật lo giềng mối cho đời
Rong chơi bốn biển, quê hương ở nơi đâu?
Quay đầu trông về nam, mit mù vậy hỉ! Trời mây nối màu xanh ngắt
Lập công chẳng được, học không xong, trai trẻ có bao lâu, ngồi ngó trăm năm, thân đuổi cuộc sớm chiều.
Vỗ tay hát khùng, hỏi đời kia, đất trời mờ mịt vậy, một người tri kỷ tìm ở đâu, thử đến giúp ta rót chén rượu này
Ta quăng chén rượu đầy trộn nước biển đông, nước biển đông nổi cuộn vạn lớp sóng
Ta quăng chén rượu đầy vào mưa núi tây, mưa núi tây một trận sao lênh láng
Ta quăng chén rượu đầy đuổi theo gió bắc, gió bắc tung cát lăn đá bay nơi khác
Ta quăng chén rượu đầy vào mây mù trời nam, trong mây mù có người há miệng điềm nhiên say tràn
Trời đất dọc ngang đều mất hết, sao ta không say, chí ta thời ta làm
Từ xưa nam nhi đuổi theo tang bồng, cớ gì sùi sụt sầu cố hương.
(Bản chữ Hán của Nguyễn Bá Trác đăng trên Nam Phong tạp chí, do Phạm Hoàng Quân cung cấp cùng bản dịch nghĩa trên báo Tuổi trẻ.)
....
Nhưng trời đã phụ lòng người. Trong thế cùng lực tận. Ông Nghè Tân cho quân binh theo mình rã ngũ. Tự lo thân, thoát khỏi chốn nguy nan.
Nhìn mây trời u ám trên dãy Ngọc Linh chạy dài, băng qua rừng Trà My xanh ngát, đượm nồng hương quế. Ông Nghè Tân sửa lại tư thế, trịnh trọng quỳ xuống, mặt hướng về phương Bắc ngậm ngùi:
“Sửa mũ áo lạy về Bắc khuyết, đuốc quang minh hun mát tấm trung can
Chỉ non sông giã với cô thành, chén tân khổ nhấp ngon mùi chính khí”
(Văn tế Phò mã Chưởng hậu quân Võ Tánh và Lễ bộ thượng thư Ngô Tòng Chu do Đặng Đức Siêu soạn)
Ông buông mình xuống vực sâu thăm thẳm. Tiếng vượn hú thê lương tiễn biệt tấm lòng son. Nghĩa khí kẻ sĩ trong thời tao loạn đã thành thần. Rừng thiêng vang vọng nỗi u hoài, sinh bất phùng thời.
……..
Hội đồng Hương chức nhóm họp kỳ này nghe có vẻ nghiêm trọng. Ngoài đương chức, nghe nói mời hết các vị thân hào nhân sĩ nữa. Ông Chánh Hai, ông Thầy Kinh, ông Lý Cát, ông Bát Lê.
Ông Cử Hoành từ khi nghe được tin ông Nghè Tân tuần tiết, sinh bệnh. Mắt gần như mù hẵn, nằm nhà đắp chiếu, không còn ham bàn chuyện thế sự.
Đám hương chức ngán nhất mấy ông quan đã về hưu, nhiễu sự. Ông Lý Cát mặt đỏ ké, mặt trời sắp xuống núi còn tươi hơn mặt ông, sực nức mùi rượu. Lão Lý lấm lét, không dám nhìn thẳng, cứ e hèm e hèm. Ông Chánh Hai lấy ống điếu gõ gõ lên vai Thầy Kinh, mắt nháy nháy về hướng Lý Cát.
Nội dung chung qui cũng là trật tự trị an. Thuế điền, thuế thân. Không nghe nói gì về dân sinh, dân quyền. Quy kết những người theo phong trào Cần Vương chống Pháp là giặc.
Ông Bát Lê vốn nho nhã, ít nói. Bỗng dưng đứng lên chỉ tay vào bọn hương chức:
- Cướp đêm là giặc, cướp
ngày là các ông. Dân tình khốn khổ, các ông tróc nã không còn cái khố. Tiếp tay cho chúng nó gom góp tài nguyên, tơ lụa, quế hồi. Mỏ vàng Bông Miêu rỉ nước đen ngòm, là xương là thịt dân làm phu làng này, các ông biết không hả?
Sân đình chộn rộn, có người nép mình tránh né. Lão Lý Cát hết say, mắt nhìn lơ láo. Ông Chánh Hai cúi đầu, thầy Kinh luôn miệng niệm Phật.
Nói xong, ông Bát Lê phủi đít ra về. Hương quản Hào không dám hó hé. Dầu sao ông Bát Lê là quan to, chức trọng về hưu. Đã một đời phụng sự cho nước cho non...
Nguyễn Châu

ĐIÊN

Cô Đào sinh ra trong gia cảnh thanh lương, năm mười lăm tuổi cô xinh đẹp lạ thường, khuôn mặt rạng rỡ sáng ngời như vầng trăng đêm rằm. Mẹ cô sợ thần tiên, ma quỷ bắt mất con bà, nên cạo đầu cô trọc lóc. Càng trọc giống ni cô và với dáng người tròn trịa nẩy nở, sớm dậy thì đã khiến bao người đêm mơ ngày tưởng, mê cô như điếu đổ.
Da cô trắng hồng, kèm theo đôi má bầu bỉnh, hai tay lông măng như tơ, trông cô hấp dẫn lạ thường, cô là con trời, con Phật chớ chẳng chơi.
Trong đám trai làng, đứa nào cũng bặm trợn. Cha cô gởi vào chùa, nhưng số cô không có căn tu. Sư sải nhìn cô lom lom, biết đâu:”Thuyền từ cũng muốn về Tây Trúc/ Trái gió cho nên phải lộn lèo…”(HXH)
Tinh hoa phát tiết quá đà, cô điên! Cô đi lang thang hay chui vào bụi rậm, cả nhà đi tìm muốn hụt hơi. Có khi cô ngồi trong bụi tre gai rậm rì, không biết làm sao cô chui vào được mà không hề hấn gì. Mọi người chặt, lôi từng nhánh gai nhọn hoắt, kéo cô ra.
Cha cô đóng chiếc củi tre để nhốt, cô gào lên những âm thanh nghe chói tai và xé rách áo quần, lồ lộ đôi ngực trần thanh tân, thân hình đẹp tựa tiên nga và đôi mắt rực lửa vằn lên cơn giận dữ.
Mẹ nhìn cô rơm rớm nước mắt. Có bệnh vái lạy tứ phương, cha mời thầy pháp trừ tà. Cô ngồi yên cho thầy cầm roi dâu đi quanh, tay trái bắt quyết, miệng niệm chú nhưng thầy cũng thần hồn nát thần tính, roi dâu xé gió vút vút qua đầu…
Bỗng cô cười sằn sặc, chỉa ngón tay trỏ vào ông thầy pháp, giọng lanh lảnh:
- Tâm địa trần tục, háo sắc đa dâm. Quỷ sứ đâu bay! buông thiên la địa võng nhốt gọn lão này, ha ha…
Thầy pháp hoảng hồn, cặp mắt còn luyến tiếc nhìn đôi ngực trắng ngần, lùi dần ra cửa.
Một đêm không trăng sao, cô Đào trần truồng đi lang thang, thuận tay ngắt chùm hoa ven đường đưa lên mũi ngửi, hương hoa cỏ dại thanh khiết mùi đồng nội. Bóng cô mờ ảo trong sương đêm, những con đom đóm vụt bay ngang, ánh sáng lập lòe như soi đường đưa chân cô đến ngôi miếu cổ. Màn đêm u tịch, tiếng côn trùng nỉ non như điệu nhạc mơ hồ, cô ngước nhìn hàng cau già cao vòi vọi, đứng im lìm như những song chắn khổng lồ, ngăn cô với bức bình phong đen mờ mờ trước sân miếu Thần hoàng.
Tiếng mèo động đực giao hoan trên mái ngói vang lên những tiếng gào, rú như trẻ con khóc dạ đề.
Một bóng đen đã theo chân cô tự lúc nào, bỗng cơn giông ở đằng Tây dội về những tiếng sấm đì đùng, tia chớp lóe sáng ngoằn ngoèo, nổi bật thân hình vệ nữ của Đào với làn da trắng nhờ nhờ, tóc bay theo gió.
Thằng Rân ngồi thụp xuống, nấp vào gốc phượng già. Rân là cháu họ ngoại xa của mẹ Đào, tướng hắn như con gấu, lực điền có hạng trong làng, một mình hắn cùng với con trâu cày cả mẫu ruộng một lèo không nghỉ, chỉ có trâu sùi bọt mép trắng xóa, hắn thì không.
Bầu trời vần vũ, cơn mưa kéo về mịt mù kèm theo sấm chớp, ánh sáng chói lòa làm màn mưa như có lân tinh, khoác vào thân thể trần truồng của cô chiếc áo voan mỏng diệu kỳ.
Đào nằm xuống giữa đám cỏ xanh um, dang hai tay, đôi mắt mơ màng nhìn vào bầu trời, đón những hạt mưa đã bắt đầu nhẹ hạt. Cả người cô như được phủ màn sương mong manh tạo thành bức tranh lõa thể tuyệt mỹ trên nền xanh cỏ dại.
Rân nghe lòng rạo rực, bản năng giống đực làm hắn mê muội. Sau cơn mưa bầu trời xanh trong, những vì sao như e ấp long lanh, bình minh rạng ngời sắc cầu vồng…
Rân trườn mình bò như con rắn, lưng trần rám nắng của hắn như tấm thớt đen mun..
Hắn chồm lên, Đào ngồi bật dậy.
Lạ lùng làm sao, Đào không phản ứng gì, cô nhoẻn miệng cười trong bóng đêm, nhìn Rân như khuyến khích...
……….
Cô Đào, con gái duy nhất của thầy Bốn. Thầy là người đáng kính, tổ tiên thuộc bậc công hầu, gia phong chuẩn mực. Gia đình thầy sống khiêm cung nên được bà con làng trên xóm dưới nễ vì.
Học trò thầy có cậu Lương, ảnh hưởng đậm tính mô phạm của thầy, đã tốt nghiệp y khoa và đang công tác ở khoa nội thần kinh của bệnh viện lớn. Lương đã đem hết kiến thức chuyên môn của mình để chữa trị và hội chẩn cùng các vị giáo sư đầu ngành uyên bác để tìm ra căn bệnh của Đào, nhưng không thuyên giảm chút nào.
Sau đêm giao hòa âm dương giữa đất trời, cô Đào hết điên. Cô đã biết giữ ý tứ, thùy mị và xinh đẹp hơn xưa. Nhưng khi cô trở lại sinh hoạt bình thường, biết chăm chút đến nhan sắc của mình lại khiến cha mẹ cô càng thêm lo ngại.
Cô không còn điên nên cha không thể nhốt cô, không thể cách ly cô với đám trai làng, không thể cấm đoán cô vui chơi trong những đêm hội hè đình đám. Thầy Bốn sợ cơn điên nơi cô tái phát.
Cô đi học lại, thầy cô ân cần bồi dưỡng để cô theo kịp bạn bè, nhưng hình như đầu óc cô vẫn còn phiêu lãng đâu đâu…
Sau những ngày mệt nhoài với đồng sâu đồng cạn, đêm đêm nơi miếu Thần hoàng, tiếng sáo trúc của Rân như oán như than, như mời gọi, có lúc buông lơi có khi thúc giục rồi cao vút lên, đứt hơi nửa chừng như tiếng hót họa mi bị cắt ngang thanh quản, lạc vào thinh không.
Cô Đào không hề nhớ gì về đêm mưa gió ấy, cô chỉ nhớ những kỷ niệm của ngày đi học, sân trường rộn rã tiếng cười và hồn nhiên nô đùa, vui cùng sách vở…
…………..
Một đêm hè oi bức và bầu trời đầy sao, bỗng cơn giông đằng Đông cùng đám mây đen nghịt từ biển ùn ùn kéo tới che khuất vầng trăng sáng lung linh, đang trải ánh lụa vàng trên ngàn cây nội cỏ.
Sấm chớp ùng uỳnh, mưa như thác đổ, tiếng sét đinh tai nhức óc chẻ đôi cây đa già sau miếu Thần hoàng. Người ta tìm thấy con trâu nhà thầy Bốn và thằng Rân bị cháy nám đen thui.
Nguyễn Châu

(Trích tập truyện ĐÔI DÒNG - 2018) 

TRÍCH THƯ CỦA BẠN

 Tui nằm đó, chưa chết ông ạ. Có tiếng gõ cửa, nhưng tôi giả bộ nhắm mắt. Nghe thằng T. thì thầm:
- Mấy chục?
- Năm chục! Thằng P. đáp.
Một giọng khác xen vô:
- Hắn nằm chờ chết, ăn uống được gì mà cho nhiều? Để dành phúng điếu!
Tui he hé mắt nhìn tụi nó. Mặt thằng nào cũng như đưa đám. Thằng dụi mắt, thằng lấy khăn mu-xoa khịt khịt mũi. Thằng T. để tay trên trán tôi, cách năm phân.
- Ái chà! Sốt sốt… Bác sĩ, y tá đâu? Một lũ vô trách nhiệm!
Hắn chạy ra hành lang, té ra hắn sợ truyền nhiễm.
Tụi hắn nghĩ tôi mê man. Thằng P. viết mấy chữ trên phong bì, sè sẹ kéo nhau ra khỏi phòng.
Tui đang thiu thiu. Công đoàn cơ quan đến thăm. Lão phó kiêm chủ tịch, vạch mí mắt tôi lên. Tui nhột, cố đơ ra. Lão quay qua cô thủ quỹ:
- Trắng dã, không qua khỏi con trăng!
Cô thủ quỹ thở dài, cố nén nỗi hân hoan.
Tôi trở mình, quay vào trong. Cả bọn cuống quýt: - Bác đã tỉnh! Lạy ơn trên, lạy ơn trên…
Tay tôi đánh sầm xuống nệm. Loáng thoáng tiếng thì thào:
- Hồi dương, hồi dương…
Cả lũ đó ông ạ. Thời gian tôi bệnh, lợi dụng được ủy quyền. Bọn chúng tha hồ đục khoét.
Bọn thằng T., thằng P. là bạn thời chiến đấu của tui. Những năm nằm gai nếm mật, thương quý nhau rất mực ông ạ. Nhưng từ ngày tui ăn nên, làm ra. Chúng lại đố kỵ, tìm cách hất chân, gièm pha đủ thứ, hòng thay chỗ ghế tui ngồi. Tui chết, thiếu gì thằng sướng.
Nhưng tui sống làm gì với bọn chó đẻ này, hở ông?

MÙA NGÂU

    Cô Năm Hường ở xóm tôi, một chữ bẻ đôi cũng hổng biết nhưng rất thời sự, không những đầu làng cuối xóm cô rành sáu câu mà chuyện ở bên trời Tây hay thời trang đến tuyển lựa ca sĩ cô cũng tỏ tường. Có điều lạ, cô hay hỏi ý kiến cha tôi về chuyện ăn mặc, trang điểm của cô.

Có lần trước khi đi đâu đó, cô hỏi cha tôi:
- Trông em như dzầy được không anh Hai?
Cha tôi đang bập bập điếu thuốc rê, quay lại nhìn cô thong thả:
- Đẹp lắm! Cô tô son thoa phấn kiểu này rất đẹp nhưng tôi nói cô đừng buồn, trâu không cưa sừng làm nghé được đâu cô Năm.
Cô chưng hửng, hứ một tiếng rồi quay ngoắt đi một hơi...
Nhưng chỉ hôm sau cô lại sang nhà tôi, cha tôi đang ngồi chẻ lạt chuẩn bị nhổ mạ. Cô mặc áo sơ mi chim cò màu đỏ rực khiến cha tôi lóe mắt. Ông hấp háy đôi mắt, ngưng tay, lôi bịch thuốc rê chậm rãi vấn điếu thật to, bật lửa rít một hơi, thở ra mù mịt. Cô Năm đưa hai bàn tay quạt khói thuốc lia lịa, chạy vào hàng hiên, giọng đứt quảng:
- Thuốc chi hôi rình, để em mua biếu anh Hai thuốc xịn thơm hết biết. Anh Hai nhìn em chút coi!
Cha tôi ngồi trên đòn kê, hai tay bó gối:
- Chớ cô Năm đi đâu mà đẹp dữ dzậy?
- À, em đi đám ma anh Bảy...
Chú Bảy là tay phong lưu nhất xóm tôi. Gia cảnh không lấy gì đủ đầy nhưng mê đá gà. Lần nào trúng độ cũng mời cha tôi và cô Năm nhậu. Ngồi nghe cô Năm ca vọng cổ mùi tận mạng, cha tôi cũng say quắt cần câu, lại được dịp để cho mẹ tôi còm ròm. Không hiểu sao, mẹ tôi chẳng có lời nào đá động đến cô Năm. Cha tôi nằm im re.
Trời hôm nay nhiều mây, đàn chim én bay lượn lờ rối mắt. Cô Năm ngồi đong đưa hai chân trên xích đu, mặt hướng về phía cha tôi. Ông buông cây rựa, bước vào trong nhà rót bát nước chè xanh làm một hơi, giọng như thương cảm:
- Cô ăn mặc kiểu này, thằng Bảy thấy, nó nhảy đựng, có khi nó không siêu thoát được đâu cô Năm.
- Anh Hai nói nghe ghê! Mới đó mà...
Cô buông lửng, rồi sụt sùi thiệt tội nghiệp. Cha tôi an ủi:
- Tui cũng buồn nẩu ruột đâu thua gì cô nhưng cô dìa thay áo. Áo đen hay trắng chi cũng được, mình đến sẻ chia nỗi buồn với gia đình thằng Bảy mà cô Năm, áo sơ mi này quá đẹp quá sang nhưng không được đâu cô!
Gần rằm tháng Bảy, ánh trăng dìu dịu, le lói ánh đèn nhà ai cuối xóm, con lộ nhỏ như có lân tinh nổi bật lên giữa cánh đồng xanh màu lúa thì con gái. Mây bay bay tản mác dần về nơi xa xa tít tắp. Mùa Vu Lan, mùa Ngâu hay tháng cô hồn gieo vào lòng tôi nỗi buồn không tên họ. Cô Năm Hường vừa báo tin cho cha tôi:
- Chị Ba Hiếu đi mò ốc lún sình, mò tôm luôn rồi....
Cha tôi lấy chiếc khăn chặm mắt. Ai chớ cô Ba Hiếu là chỗ thâm tình với nhà tôi. Thời chiến tranh, cha tôi đi biền biệt, cô Ba Hiếu đỡ đần cho mẹ con tôi, lúc gạo sấy thịt hộp, lúc cả vĩa trứng gà... Cô Ba Hiếu đi làm sở Mỹ....
Cô Ba Hiếu là người tình cũ của cha tôi.
......
Tôi là con trai lớn nhất trong nhà, bốn anh chị em, ba trai một gái. Có phần nào tôi hiểu cha tôi hơn các em. Cha tôi chưa bao giờ ngồi không, trong trăm nghề có lẽ cha tôi đã qua hơn chín mươi vì mưu sinh trong cuộc sống. Thất bại việc này, ông tìm cách chuyển sang nghề khác. Từ khi không còn được đứng trên bục giảng, ông mở tiệm sửa xe, gò thùng, hàn xì, tìm chỗ dạy kèm (gia sư), mở quầy cho thuê sách (bị hốt sạch bách), buôn bán chôm chôm, lái tàu du lịch, quản lý cho công ty nước ngoài. Hơn năm mươi tuổi vẫn bôn ba đi làm công nhân cho công trình xây dựng cầu đường tận ngoài Bắc... để có tiền cho anh em chúng tôi ăn học nên người.
Cha tôi có tâm hồn văn nghệ lẫn đa tình hay đa tình tạo nên tâm hồn văn nghệ?
Ông viết văn, làm thơ mang nỗi buồn ưu thời mẫn thế nhưng ông không buồn riêng vì thân phận mà xót xa cho những phận người vẫn còn cay đắng, cơ cực hơn hoàn cảnh như ông.
Khi tôi vừa xong trung học, một đêm về sáng chợt thức giấc, tôi đã thấy cha tôi ngồi bên ấm trà bốc khói, ngâm nga:
"Quất mãi nước sôi
Trà đau nát bã
Không đổi giọng Tân Cương (Phùng Cung - Trà Tân Cương nổi tiếng của Thái Nguyên)
Tôi chưa hiểu gì nhiều về ý nghĩa của lời thơ cha tôi đọc. Mãi đến sau ngày ấy của cha tôi, tôi càng thấm thía nỗi lòng trung chính của ông.
Không ai ngờ cô Ba Hiếu là người của Mặt trận. Khi hai người chuẩn bị kết hôn, cha tôi phải xin phép Bộ Tổng Tham Mưu. Sau khi sưu tra, lý lịch cô Ba Hiếu bất minh, người ta không thuận, nhưng cô vẫn lui tới nhà nội tôi như người con dâu hiền thục. Cha tôi thề không lấy ai nữa. Nhưng oái ăm làm sao! Mẹ tôi là em họ của cô. Ông ngoại tôi là ủy viên hội đồng tỉnh K. (trước 1975), gốc Mỹ Chánh, huyện Kiến Hưng, tỉnh Định Tường (nay thuộc xã Tân Mỹ Chánh, TP. Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang). Họ nội tôi ở vùng phù sa ven sông Thu Bồn, nghe nói nơi ấy địa linh nhân kiệt, vùng đất của "Ngũ Phụng Tề Phi". Khi sinh ra đời đã mang mầm "cãi" nên đa số có tâm hồn cách mạng, muốn thay đất đổi trời mong mang lại công bằng và ấm no cho bá tánh. Không lẽ tự dưng có vụ "kháng thuế cự sưu tại Quảng Nam và các tỉnh Trung kỳ 1908"?
Năm 19... cha tôi thuyên chuyển về Mỹ Tho, duyên trời gắn kết cha tôi với mẹ. Người nữ sinh trường Nguyễn Đình Chiểu (Ngôi trường xưa nhất của Nam Kỳ Lục Tỉnh) dịu dàng và đôn hậu đã làm trái tim cha tôi thổn thức. Có phần nào ông lãng quên nỗi bẽ bàng của mối tình không trọn với cô Ba Hiếu...?
Sau này cô Ba Hiếu làm cán bộ to nhưng vẫn còn đơn chiếc, đến khi về hưu cô lập am tu tại gia. Dòng sông Ngân Hà vẫn long lanh trên bầu trời trong vắt nhưng bầy quạ mãi quên phận sự của mình, ngày Thất tịch không bắc cầu Ô Thước nên cha tôi và cô Ba Hiếu suốt đời vẫn chênh vênh giữa đôi bờ...
......
Gần cuối đời, đi đâu gặp ai nhất là con cháu, ông lọ mọ lấy điện thoại chụp hình, hỏi ngày sinh tháng đẻ...
Về nhà ông lui cui với cái laptop đời cũ quắt, làm "kỷ yếu gia tộc" để biết thằng này con ai, đứa kia cháu của ông bà nào...
Tôi khẽ khàng góp ý:
- Ba nghỉ cho khỏe, lụm cụm làm mấy cái đó có ích gì. Thế hệ con cháu sau này tự chúng tìm hiểu lấy...
Ông trừng mắt, hạ mục kỉnh nhìn tôi:
- Ngày Chạp mả - Thanh Minh, bao năm rồi con có về không hả? Dù về có gặp đủ mặt anh em, con cháu không? Biết tôn ti dòng họ, bà con cật ruột ra sao không?
Ông kéo tôi lại màn hình, chỉ ngón tay vào ảnh bé gái trông mặt thật xinh, mắt tròn vo. Gằn giọng:
- Con cháu nhà ai?
Tôi giật mình, lớ ngớ. quả thật không biết con ai. Ông rê con chuột sang phần "lý lịch": Đời thứ mười hai: Nguyễn Võ Phù Sa, con của.... sinh năm ngày... tháng... năm 2018 (Mậu Tuất)! Lại kèm theo địa chỉ....
Tháng Bảy trời ngâu, mưa giăng trắng xóa. Cha tôi ngồi thầm lặng nhìn từng giọt rơi rơi từ trên mái lá, không biết ông đang nghĩ gì...?
Bóng dáng tà áo bà ba màu lá mạ của cô Năm Hường vừa đi ngang qua đầu ngõ, lâu nay cô không còn tạt vào để hỏi ý kiến cha tôi...

TRĂNG TREO MÁI LÁ

Tôi đi loanh quanh vì không biết đường, vác trên vai bao tải nặng trịch. Bỗng nhiên cô gái từ trong nhà bước ra chận đường: - Anh tìm ai mà...